Nhạc sĩ Thanh Sơn và vợ, bà Lê Thị Hương(DR
Nhạc sĩ Thanh Sơn và vợ, bà Lê Thị Hương(DR)
 
Ngày 04/04/2012 vừa qua, nhạc sĩ Thanh Sơn đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 74 tại Việt Nam, khiến hàng triệu con tim yêu nhạc, yêu những tác phẩm của ông không khỏi ngậm ngùi thương tiếc. Thế là làng âm nhạc Việt Nam đã mất đi một tên tuổi người nhạc sĩ tài hoa, cống hiến gần như cả cuộc đời mình cho âm nhạc.
 

Không ai trong chúng ta, khi đã từng bước qua tuổi học trò, mà lại không từng nghe, hoặc thuộc một vài lời hát trong số những tình khúc Bolero nổi tiếng của ông như : Nỗi buồn hoa phượng, Nhật ký đời tôi, Lưu bút ngày xanh, Hình bóng quê nhà, Ba tháng tạ từ, Màu áo hoa phượng, Hạ buồn, Ve sầu mùa phượng, Trả lại thời gian, hay Hoa tím ngày xưa...

Nhạc sĩ Thanh Sơn, tên thật Lê Văn Thiện sinh năm 1938 tại Sóc Trăng và là con thứ mười trong một gia đình có 12 anh chị em. Ông là một nhạc sĩ Việt Nam được biết đến từ thập niên 1960 với những ca khúc trữ tình viết về tuổi học trò, đặc biệt yêu thích chủ đề mùa hè – mùa chia tay của học sinh sinh viên. Các nhạc phẩm về chủ đề này chiếm một phần quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông, và sau này những nhạc phẩm mang đậm âm hưởng dân ca của nhiều miền đất nước, đặc biệt là quê hương miền Tây - Nam bộ, nơi ông đã sinh ra và trưởng thành.

Có thể nói, các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Sơn ít nhiều mang tính giáo dục cao về tình yêu quê hương đất nước, không bóng bẩy trừu tượng cầu kỳ khó hiểu, mà lại đậm nét thơ ca, với những hình ảnh rất đỗi gần gũi quen thuộc của lũy tre, bờ đê, dòng sông, con đò, bến nước... ngập tràn dáng dấp quê hương.

Cho đến nay, qua nhiều giai đoạn sáng tác, nhạc sĩ Thanh Sơn đã viết trên 500 bài hát với nhiều ca khúc đã trở nên rất quen thuộc trong lòng khán giả. Để biết thêm một số thông tin về người nhạc sĩ tài ba, Góc vườn âm nhạc của đài phát thanh quốc tế Pháp RFI đã liên lạc với bà quả phụ Lê Thị Hương, người bạn đời của cố nhạc sĩ Thanh Sơn.

Nguồn: RFI 14-4-2012

 

altNăm 2008, nhạc sĩ Thanh Sơn sang Hoa Kỳ tham dự chương trình thu hình trực tiếp của Trung Tâm Thúy Nga. Trong dịp này nhà báo Phạm Phú Minh của đài truyền hình VOCT tại Little Sài Gòn đã phỏng vấn ông. Để tưởng niệm nhạc sĩ Thanh Sơn, xin đăng lại sau đây nguyên văn cuộc phỏng vấn này.

 

Phạm Phú Minh: Thưa nhạc sĩ Thanh Sơn, trước hết xin anh cho biết đôi điều về anh, như học nhạc và sáng tác bao giờ, đã cống hiến bao nhiêu nhạc phẩm cho âm nhạc Việt Nam?

Nhạc sĩ Thanh Sơn: Thưa anh, từ năm 1955, hãy còn nhỏ, tôi bắt đầu học nhạc với thầy Võ Đức Phấn tại quê tôi, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1958 thầy Phấn qua đời, tôi không có thầy nào để tiếp tục việc học nhạc. Lên Sài Gòn, tôi tìm đến học thầy Lê Thương rồi thầy Dương Thiệu Tước. Năm 1959 tôi có tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Sài Gòn tổ chức và đoạt giải nhứt, nhưng tôi nghĩ nghề ca hát một sớm một chiều rồi sẽ mai một đi, nên tôi xoay qua sáng tác.

Bài hát đầu tiên tôi viết là bài Tình Học Sinh, không được đón nhận mấy, không ai biết đến nhiều. Mãi đến năm 1962 tôi sáng tác bài Lưu Bút Ngày Xanh, được nhiều người lưu ý, hứng chí, tôi viết tiếp Nỗi Buồn Hoa Phượng vào năm 1963. Nhạc phẩm được tung ra, ca sĩ Thanh Tuyền là người đầu tiên hát bài này, bài hát nhanh chóng được nhiều người biết đến và ưa thích. Từ đó và có lẽ đến cả bây giờ, bài Nỗi Buồn Hoa Phướng gắn liền với tên Thanh Tuyền, hễ nhắc đến Nỗi Buồn Hoa Phượng người ta lại nhớ đến Thanh Tuyền, và ngược lại.

Từ nội dung “học sinh”, tôi thử nghiệm tiến vào dòng nhạc trữ tình và nhạc quê hương. Có thể nói tôi đã thành công hoàn toàn với hai dòng nhạc này. Nhìn lại thì đời sáng tác của tôi có ba dòng nhạc chính: học sinh, trữ tình và quê hương.

Phạm Phú Minh: Thưa anh, bài Nỗi Buồn Hoa Phượng đã nhiều lần được trình diễn dưới hình thức tân cổ giao duyên, tức là hát xen kẽ với những câu vọng cổ viết về cùng một đề tài. Anh có thể cho biết có phải chính âm điệu của Nỗi Buồn Hoa Phượng cũng có phảng phất hơi hướng của dân nhạc miền Nam?

Nhạc sĩ Thanh Sơn: Tôi là người sanh ra và lớn lên tại miền Nam, tại tỉnh Sóc Trăng. Trong dòng máu của tôi chịu ảnh hưởng của cải lương rất nhiều, đương nhiên ảnh hưởng đó có mặt trong sáng tác của tôi.

Phạm Phú Minh: Một tác phẩm khác của anh cũng rất nổi tiếng và cũng viết về một loài hoa, đó là bài Mùa Hoa Anh Đào. Ai cũng biết anh đào là loài hoa quốc hồn quốc túy của xứ Nhật Bản, và không lấy làm ngạc nhiên là anh đã dùng dân nhạc Nhật để làm nền trong bài này. Thưa anh, xin anh cho biết anh có liên hệ với Nhật Bản hoặc là âm nhạc Nhật như thế nào?

Nhạc sĩ Thanh Sơn: Câu chuyện cũng bình thường thôi. Năm 1960 tôi lấy vợ, vợ tôi lúc ấy 19 tuổi, rất giống người Nhật. Vào năm 1962, một hôm tôi nói với vợ rằng anh muốn sáng tác một bài tặng em. Tôi vốn thích hoa anh đào qua phim ảnh, và cũng có nghe nhạc Nhật nhiều. Do ảnh hưởng đó, tôi viết Mùa Hoa Anh Đào để tặng bà xã. Khi đưa ra phổ biến thì bài nhạc nhanh chóng được nhiều người ưa thích, tôi nói với bà xã: Tác phẩm anh làm tặng em mà bây giờ người ta hát quá nhiều, vậy là vợ chồng mình thành công trong bài hát này rồi!

Phạm Phú Minh: Cả hai bài vừa nêu, Nỗi Buồn Hoa Phượng và Mùa Hoa Anh Đào đều viết về hai loại hoa của hai mùa tươi đẹp nhất trong năm là mùa Xuân và mùa Hè. Thế nhưng cả hai bài đều không đề cập tới sự tươi sáng rực rỡ của thiên nhiên, trái lại đều dùng hoa để khơi lên một nỗi buồn, cả lời và nhạc đều nói đến những nỗi niềm nhớ tiếc vì sự cách biệt. Thưa anh, anh nghĩ sao về nhận xét này, phải chăng anh là người rất yêu hoa và thích mượn hoa để nói lên cái tình của mình?

Nhạc sĩ Thanh Sơn: Thưa anh, năm 1953 tôi có một cô bạn học chung tại lớp Đệ Ngũ ở Sóc Trăng. Cô ấy tên là Nguyễn Thị Hoa Phượng. Một buổi tối Hoa Phượng tới nhà tôi để từ giã, vì ngày mai cô sẽ theo gia đình chuyển về Sài Gòn. Ba cô ấy là công chức, thỉnh thoảng lại phải đổi chỗ làm việc. Tôi rất buồn, nói từ nay tôi và Hoa Phượng phải xa nhau rồi. Cô ta nói: Không sao đâu anh, mỗi năm tới mùa hè, anh thấy hoa phượng nở thì nhớ tới em, đủ rồi. Câu chuyện chỉ tới đó thôi. Mãi sau này lớn lên, biết viết nhạc, một hôm chợt nhớ tới người bạn xưa, nhớ tới câu nói của cô ta, nên tôi viết nên bài Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Phạm Phú Minh: Đó là nhạc học sinh. Bây giờ xin anh nói về nhạc trữ tình và nhạc quê hương.

Nhạc sĩ Thanh Sơn: Sau khi thành công với chủ đề học sinh, tôi bước sang nhạc trữ tình, mà bài đầu tiên chính là Mùa Hoa Anh Đào, rồi đến Mười Năm Tái Ngộ, Nhật Ký Đời Tôi v.v… Nhạc trữ tình được tiếp nhận tốt đẹp, tôi bước một bước nữa sang nhạc quê hương. Bài đầu tiên là bài Ngợi Ca Quê Hương, rồi mấy chục bài tiếp theo đều thành công.

Sau 1975, một số nhạc phẩm của tôi bị cấm hát ở Việt Nam, như các bài Mười Năm Tái Ngộ, Hận Tha La, Những Vùng Đất Mang Tên Anh v.v… Nhưng cũng sau 75 tôi sáng tác tập nhạc Hành Trình Trên Đất Phù Sa gồm 27 bài. Vì sao lại 27? Vì 2 cộng với 7 là 9 (2+7=9), con số 9 tượng trưng cho Cửu Long, chín dòng của sông Mekong chảy ra biển. Trong tập này tôi sáng tác cho mỗi tỉnh thuộc đồng bằng Cửu Long một bài. Từ Long An đến Gò Công, Mỹ Tho, Cà Mau… không tỉnh nào thiếu. Viết xong tập này tôi rất mãn nguyện. Hay dở không biết thế nào, nhưng làm xong việc này tôi thấy vui mừng và hãnh diện, vì đây là công việc từ trước tới giờ chưa ai làm.

Dân miền Tây rất thực thà, hiền lành và hiếu khách. Tỉnh nào đối với tôi cũng là quê hương của tôi hết, tuy quê thật của tôi là Sóc Trăng, như anh đã biết.

Phạm Phú Minh: Xin cám ơn nhạc sĩ Thanh Sơn đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi tuy ngắn ngủi nhưng nhiều tình tiết thú vị hôm nay.

{youtubejw width="540" height="425"}M_2gUQtBftw{/youtubejw}