alt

Chiếc ca nô tắt máy thả trôi vào hang Cạnh. Tôi cầm đèn pin pha sáng cho Quý dùng dầm quạt nước đi sâu vào bên trong. Hang tối mờ mờ, trần hang lâu lâu nhỏ nước tí tách, thủy triều đang xuống nhưng có đoạn phải khom người luồn qua rồi lách sang cạnh. Điểm đến rộng hơn, đá to nhỏ sắp lớp đan chặt ẩm ướt một màu nâu sẫm lành lạnh. Có tiếng người văng vẳng, có ánh sáng mờ nhạt không chói gắt cùng không khí nằng nặng, Quý chèo mạnh hơn rồi buột miệng “Đến rồi!”.

Cuội bảo với tôi: “Anh đứng chỗ này, cẩn thận kẻo trượt ngã là rơi… tự do!”. Tựa người trên tấm đá bằng độ nửa mặt bàn, tôi ngước mắt nhìn Cuội. Nó như con thạch sùng cứ thoăn thoắt đu trườn theo ống tre đực săn chắc được bắt nối tiếp cheo leo trên các vách đá. Phía trên, tốp “sào chỉa”(*) ba người đang tiến dần đến các mỏm đá lổ chổ hang hóc có bầy chim yến làm tổ. Còn Cuội như diễn viên xiếc với quần cộc, áo thun, chân trần sau lưng cuộn dây thừng quấn tròn đang vượt từng đoạn, từng đoạn trong ánh sáng vòm hang hắt xuống.

- Dũng, ở đâu?

Tiếng Quý dội vào vách đá, âm thanh hun hút lẫn trong tiếng sóng biển bên ngoài vòng vọng. Tôi khum tay làm loa hét xuống:

- Đây, trên này!

Ánh đèn pin quét loang loáng tìm lối lên. Tôi ngẩng đầu nhìn Cuội đang áp sát vào vách đá, bao cước nhỏ đeo ngang hông chao theo người nó. Trần hang thông thống, ánh sáng hắt ngược lung linh màu vàng chói bật lên màu trắng xóa của hàng chục, hàng trăm tai yến dày đặc. Đàn chim đang bu kín bỗng nhiên vỡ òa vì những sinh vật nhện bất ngờ xuất hiện. Chúng đập cánh lao xao, bay rào rào cất tiếng kêu inh ỏi rồi khuất theo trần hang, tuôn ra bên ngoài cửa động chói chang nắng, mặc kệ đám sào chỉa đang bám vào vách đá gỡ từng tổ yến.

Chiều hôm trước, khi theo Cuội qua hòn Chà Là có bãi cát nhỏ trắng mịn lại thêm dòng suối nước ngọt chảy ngầm ra triền đá trong vắt để tắm và mang nước về lều. Cuội dẫn tôi băng qua bãi đá đen đầy hàu rồi vượt đám dứa dại để leo lên khoảng đất lộng gió mọc đầy cây chà rang. Ở đấy, tôi mê mẩn cả người trước những gốc mai đảo cao không quá gối mọc cách quãng, thân mốc thếch đến bạc trắng vì mưa nắng, vì sóng gió từ khơi xa dội vào và ngã nghiêng đủ mọi hình dáng theo sườn núi. Nhìn từng gốc mai to sụ, u nần lồi lõm, rễ bám chặt vào đá khiến tôi bật thốt “Tuyệt đẹp, mang về chơi bonsai thì khỏi chê bởi hình dạng tự nhiên nên không bàn tay nghệ nhân nào tạo nỗi”. Cuội khoái dim mắt, kể “Tết đến, bãi mai tuôn lá lả tả, bông rụng vàng rực như dãi thảm hoa vàng, bọn em mang cành về tặng mọi người, anh mà ở đây cũng được một cành… chơi tết!”.

- Cuội, tên em hay thật! Chắc cuội lắm.

Nó cười khì khì, gãi gáy:

- Em đẻ rớt trên bãi sỏi vào rằm Trung thu mà. Vả lại, đêm ấy ba em mê hát tuồng có diễn vở Hằng Nga nơi cung trăng. Ông về, mọi việc xong xuôi nên đặt ngay tên Cuội. Từ đó, ổng không dám hứa “cuội” với má nữa!

Tôi cười ngất lúc nó nheo mắt, lè lưỡi chồm dậy giật mạnh cần. Con mú vọt lên dãy dụa tạo vòng tròn tung tóe nước. Cuội dang tay bắt lấy, gỡ miệng cá rồi móc nhanh vào xâu cá trước khi giong dây trở lại. Nó xoay người lúi húi một lúc rồi chìa ra tai yến chưa làm sạch còn bám lông cùng những sợi máu hồng hồng.

- Yến huyết nè anh, bổ cực kỳ. Đợt này, tai trắng nhiều chỉ có con này vừa biết làm tổ, nó nhả ra toàn bọt máu…

- Em không giao cho anh Quý bên công ty à…?

Cuội thừ người:

- Anh Đậu cho em hai miếng, bảo cất về cho má dùng chữa bệnh.

Tôi nắm lấy tai yến còn lẫn rêu bám và hòa trong gió biển là mùi tanh tanh gờn gợn. Lúc đưa lại cho Cuội, tôi hỏi:

- Em vào nghề lâu chưa?

- Gần ba năm. Mà thôi ta vào đi anh. Mấy ảnh đang chờ nồi cháo cá này, ngon thấu trời xanh lơ luôn, anh ăn sẽ biết!

Đêm trong tiếng sóng vỗ dồi dội đập vào gềnh đá, gió ríu rít luồn qua hang Cạnh phát âm thanh trầm trầm. Tôi ngồi bên Sáu Đậu, bên chiếc đèn bão vặn nhỏ ngọn đặt nơi khoảng sân ghép bằng các mảnh ván dưới mái lều của dân gác yến, xa kia là hàng trăm ánh đèn lung linh của dãy thuyền đánh cá.

- Bọn tôi từng là dân tứ xứ đổ về miền này để lao động kiếm sống nhưng dân biển hẳn hoi, có nguồn gốc vài đời làm sào chỉa nên công ty thu nhận.

Cuội là đứa đang học việc nhưng gần đủ khả năng để vào nghề. Gia đình nó ba đời theo nghiệp này. Cha Cuội trong đợt bóc yến ở hang đá Thòng vào năm năm trước, bàn chân của ông đạp nhầm phải tảng đá chết nên thành tàn phế, cả bầy con sáu đứa chỉ mình Cuội là được theo nghiệp, nhưng nó phải bỏ học nửa chừng.

Sáu Đậu rít thuốc, đóm lửa lóe lên soi rõ khuôn mặt đen sạm, tiếng nói lại chao chao vào gió biển:

- Má nó đang bệnh nặng, chuyến này tôi giấu cho nó vài tai yến, mấy ông bên công ty mà biết là đuổi thẳng vì đây là vàng, nhưng lộc trời cũng nhọc nhằn lắm mới có. Anh biết, mỗi lần Cuội vào đất liền, cả ngày ngồi bên ti vi hễ thấy các vận động viên nước ngoài leo núi là nó mê mẩn. Nói khi không phải, nếu được trang bị, ăn uống và tập luyện bài bản, chắc chắn sẽ thành công, chỉ điều gần mười tám tuổi mà bé loắt choắt.

Tôi ngạc nhiên hỏi Sáu Đậu:

- Cuội phải ở ngoài đảo à?

- Ừ. Ngoài đợt thu yến, bọn tôi còn tham gia gác yến, trong đó có Cuội. Cứ mỗi đảo, mỗi hòn, mỗi hang có yến là có những căn chòi hiu quạnh này. Cô đơn lắm nhưng nhiều khí lực. Có đứa xong việc là về để làm chuyện khác, nhưng đa số đều bám trụ trừ lúc có việc vào công ty nơi đất liền. Thôi, ta đi nghỉ, ngả lưng một tí để ngày mai bọn tôi còn phải qua bên hang Đá Thòng.

Khi cái tết cận kề có nắng hanh vàng se se lạnh, một tốp choai choai, trai có, gái có ồn ào bước vào nhà hàng kéo ghế, gác chân trên bàn. Một đứa gỡ kiếng, búng tay gọi món trời cho là các bát yến chưng cách thủy đứng đầu thực đơn có giá cao ngất ngưỡng. Tôi quay mặt nhìn ra ngoài, biển đang gầm gào cho sóng xô vào bãi cát từng đợt trắng xóa. Và tôi chợt nhớ Cuội, nhớ trảng mai đảo mùa này đang tuôn lá cùng lời hẹn với Cuội vào miền sóng vỗ. Nơi ấy, có căn chòi đơn sơ cô quạnh bên những vách đá chập chùng và cái dáng nhỏ nhắn, đen đủi của Cuội ngồi lẻ loi nhìn vào đất liền như một dấu hỏi trong chiều phai, nắng nhạt, sóng rì rào.

Nắng vẫn xôn xao, biển vẫn gầm gào và lúc này, khi xuân về, bầy yến đã bắt đầu bay về vùng nắng ấm làm tổ.

Huỳnh Thạch Thảo

Sưu Tầm

(*) Sào chỉa: người lấy tổ yến.