altỞ Sóc Nóc vào những năm 40, mẹ tôi là người gánh hàng rong đi bán dạo ở các chợ, tối đến còn vào các sòng bài bán đồ nhậu cho các ông mê chuyện đỏ đen. Có bữa lính mã tà ruồng bố các con bạc chạy hớt hải, mẹ tôi cũng chạy muốn hụt hơi tuy rằng bà không dính dáng gì chuyện phạm pháp. Vậy mà một tay bà gồng gánh nuôi một lũ con thơ dại gồm mười người. Bà còn là một tay công cấy có hạng nên các trùm vạn rất thích, tới mùa cấy là kêu đi suốt. Bà vừa cấy vừa hò đối đáp, tiếng bà nếu xuôi gió nghe vang xa cả cây số, trai làng hò không kịp đành phải chịu thua.

Vào lúc nông nhàn, bà vào sóc Miên mua lại những trái trâm rừng rồi theo đoàn công voa của Pháp về Chợ Lớn bán cho các thợ thuyền, trâm rừng bán đắt vì vừa rẽ, vừa ngon. Một lần đi buôn bà xuống xe không may bị té gãy tay phải nghỉ bán, từ đó gia đình đâm ra túng quẫn. Năm Ất Dậu lại xãy ra nạn dịch đậu mùa tràn lan làm dân chúng chết nhiều vì không có thuốc chữa trị. Gia đình tôi cũng nằm trong cảnh tang thương đó, mẹ tôi đành bỏ mất hai người con: anh Hai và chị Ba tôi. Khi chiếc xe bò cọc cạch chở hai người con ra nghĩa địa chôn, bà kêu gào thảm thiết như người mất trí rồi ngất xỉu.

Buồn rầu vì mất con, bên Miên lúc ấy loạn lạc nên gia đình tôi tản cư về quê cha đất tổ ở ngã ba Cây Khế, Trảng Bàng để nương tựa. Cha tôi nhận lại mấy sào ruộng của từ đường, cày cấy nuôi đám con nheo nhóc thay thế người vợ bệnh hoạn.

Mỗi ngày chúng tôi ăn cơm trên chiếc bàn đá mài loang lỗ, thường phải ăn một lượt như lính vì đồ ăn không đủ, kẻ trước người sau sẽ thiếu hụt ngay, riết rồi quen như chim bay về tổ, tới giờ cơm là chúng tôi có mặt đầy đủ. Chiếc bàn nầy rất cũ kỉ không biết từ đâu có nhưng ông già tôi rất quý, lúc chạy giặc Miên ông phải chở nó trên chiếc xe bò cọc cạch ròng rã một ngày đêm mới về tới An Tịnh. Chiếc bàn đá nầy là trường học đầu đời của bọn tôi, lớp gồm tám tên ngồi xung quanh nghe ông giảng đạo. Từ những câu chuyện thời ở mật khu Hố Bò nghe rất hào hứng, có lần chi đội ông bắt được con ngựa rừng định thuần hoá nhưng nó rất chứng, ai lên cưỡi đều bị nó lồng lộn quật ngã. Cả chi đội chịu thua tới phiên ba tôi xin lên, ông nhảy phóc trên lưng ngựa cưởi một lèo phi nước đại khiến mọi người kinh ngạc thán phục, họ biết đâu ấy là nhờ vốn liếng ông đi làm nài ngựa mướn cho các chủ ngựa đua ở Nam Vang thời niên thiếu nghèo khổ. Từ đó ông có biệt danh là Bảy Ngựa Ô, vì con ngựa màu đen mà ông lại thứ bảy.

Xung quanh chiếc bàn đá là ông dạy cách đối nhân xử thế, những kinh nghiệm ở đời mà tuổi chúng tôi ngày ấy chưa thề phân định được trắng đen như thế nào. Nhưng ông nói nghe rất hấp dẫn, bài giảng của ông có nhiều ý tưởng lạ dù đôi lúc chúng tôi không hiểu. Có lần ông nói: "Người ta nói thất bại là mẹ thành công, còn tao nói thất bại là mẹ thất bại". Chúng tôi cười ồ vì nghĩ rằng ông nói chơi, nhưng ông giải thích nghe cũng có lý, người ta có vốn nhiều thì thua keo nầy bày keo khác rốt cuộc sẽ thắng một vụ, còn tụi bây tiền bạc y còm nếu không tính toán thiệt hơn làm tiêu một cái thì lấy vốn đâu nữa mà làm ăn. Cho nên phải cẩn trọng.

Sau nầy chiến tranh lan rộng chúng tôi từ chợ Trảng kéo nhau về Long Hoa sinh sống, cha tôi mua lại chiếc xe lam của người quen chở khách đi Gò Dầu. Mẹ tôi thì đã khoẻ và buôn bán trở lại nhưng chỉ bán lặt vặt quanh xóm cho hợp với sức khỏe, vì sau vụ tai nạn cánh tay bà bị cán giá không làm việc nặng được. Lúc dời nhà, kéo đồ đạc về Long Hoa, chúng tôi định bỏ chiếc bàn đá vì thấy nó cũ kỹ, xiệu xạo quá. Ông một hai không chịu, đòi phải đưa lên xe: “ Đây là kỷ vật, là chứng nhân lịch sử thời ông cố tụi bây phải giữ lấy. Ngày xưa, mỗi lần nhà có lễ lộc, ta là cháu nội được cưng nhất mới được ngồi chung với ổng ở bàn nầy.” Ông nói vậy, chúng tôi đành chịu.

Suốt ngày chúng tôi đi học, chỉ tới giờ cơm chiều là cha con hội tụ cũng ở trên chiếc bàn đá cũ kỹ nầy và bắt đầu những câu chuyện đông tây kim cổ. Nào là các anh hùng Lương Sơn Bạc, ông chê hữu dõng vô mưu dầu có thế thiên hành đạo cũng không thể chống lại được triều đình phong kiến. Ví như Võ Tòng, người vai u thịt bắp, võ nghệ cao cường lại đi giết người đẹp Phan kim Liên liễu yếu đào tơ, để trả thù cho Võ Đại Lang; giết mụ nầy ai giết cũng được, cần gì anh hùng, có giỏi thì giết cả đám quan huyện sâu mọt, vùng lên đã phá một chế độ phong kiến thối nát. Hay như Lý Quỳ, sức mạnh vô song, gia tài có một bà mẹ già, lại biết vùng ấy có cọp dữ mà cứ xuềng xoàng đi lấy nước để mẹ bị cọp vồ oan uổng; dù giết được con cọp, ai cũng kính nể nhưng lại mất mẹ cái nào quý hơn?

Ông hay phản bác lại mọi chuyện người ta đã định sẵn, toàn những kiệt tác văn chương, anh hùng hào kiệt cả! Nhưng ông lại khen tấm tắc tráng sĩ Kinh Kha một mình đơn thương độc mã vào hang cọp giết bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, làm dấy động cả hoàng cung; tên hôn quân may nhờ lão lương y triều đình Hạ Vô Thả quăng túi thuốc gây cản trở đường gươm tráng sĩ chứ không là tiêu đời rồi! Nói xong rồi ông cười ha hả. Chúng tôi nghe ậm ờ, chớ chuyện xưa tích cũ, toàn là một lũ trẻ con làm sao hiểu nổi cái dũng cái nhân của người xưa.

Năm ấy, lớp tôi làm bích báo thi đua với các trường, phải có bài nói về con cọp vì Tết Giáp Dần. Tài liệu thì không có mà thời gian đã cận kề, rối quá tôi than với ông. Ông kêu tôi lại chiếc bàn đá, rồi kể đến gần nửa đêm: nào là vào trong rừng mà nghe tiếng con chim lịnh kêu quác quác là biết tới số vì sắp gặp ông ba mươi, con chim này hay theo xỉa răng cọp lắm; sau khi cọp vồ mồi ăn, nó nghỉ ngơi hả họng ra để thở, con chim lịnh liền bay vào ăn mót thức ăn thừa trên hàm ăn của nó. Còn con rắn nó mổ người là do tự vệ chứ không kiếm người để cắn, khi đang săn mồi mà có người đi ngang thì nó mổ… Mừng quá tôi đưa vào tờ báo, không ngờ chiếm giải nhất, được giải thưởng một quyển tự điển, hỉ hả về khoe tôi nói: “Ba đúng là một dictionnaire de vivant thời đại". Ông cười lớn khoác tay: "nói tầm bậy, cái đích xi ông me đờ vi văng là từ lâu người Sài Thành kính nể dành cho cụ Vương Hồng Sẻn, tụi bây không biết gì đừng láp nháp”.

Mỗi ngày ông chạy xe lam trên quốc lộ 22, đường nầy lúc ấy đoàn công voa Mỹ đi rất nhiều, các cuộc đụng độ xảy ra liên miên, nhất là dọc theo quốc lộ đồn điền cao su Vên Vên nên chạy xe rất hồi hộp. Bữa nào ông về tối, anh em tôi nóng lòng lội bộ cả mấy cây số ra ngả ba Giang Tân chờ ông, khi nào hiện lên chiếc lambro cà tàng số 9984 là chúng tôi nhảy tửng lên, ông chở một vòng qua phố dạo chơi rồi về nhà.

Một bữa, gia đình quay quần ăn cơm trên chiếc bàn đá, ông bỗng nói: "Xém nữa tụi bây có thêm thằng em út mót." Chị Tư tôi cười nói: "Mẹ già rồi còn sanh đẻ gì nữa ba?" Ông cười lớn: "Không phải sanh mà từ trên trời rớt xuống..." Chúng tôi ngạc nhiên tò mò hỏi, ông kể: Bữa đó, xe đang chạy ngon trớn tới đồng bưng Trao Trảo, bỗng phía trước từ trong chiếc xe đò văng ra một gói gì trăng trắng rớt xuống ruộng, ông tưởng hành khách ngũ gật lơ là làm rớt đồ nên dừng xe lại bước xuống ruộng coi thử…Mùa nầy, lúa đang trổ đòng đòng, cây cong quằn dày rậm rạp, ông mở gói đồ bọc bằng mấy lớp khăn lông, bỗng thấy cục kịch tưởng con gì, vạch qua lớp vải ông đứng tim khi thấy trước mặt mình là một đứa bé còn đỏ hỏn …Ông dụi mắt, định thần một lần nữa…một bé trai kháu khỉnh, ông thấy rõ cả con cu nó bằng đầu thuốc Bastos, ông bồng nó lên, may mà nằm trên sóng lúa dày đặc nên không sao! Ông nghĩ, cô gái nào lỡ lầm chửa hoang, trong lúc quá quẩn trí làm càng, tàn ác quá! Nhưng xét cho cùng, cũng còn chút nhân đạo nên cũng lựa chỗ mà quăng đứa trẻ…Đang lừng chừng không biết tính sao thì xe lam của ông Ba Mẹo chạy trờ tới, ông kể lại sự tình và nói: "Thôi số trời sắp đặt, tôi với anh gặp đứa trẻ tội nghiệp nầy giữa đồng không mông quạnh. Tôi con cái nheo nhóc, còn anh không có con, tự dưng được một đứa đây chắc là hồng phúc, lộc của trời cho đem về mà nuôi". Ông Ba Mẹo cũng bần thần một hồi nhưng nghe chí phải bèn nhận về nuôi cho có con cháu ẵm bồng vì vợ chồng già hiếm muộn. Ông già tôi nhận làm cha đỡ đầu cho đứa trẻ và đặt nó tên Rớt, sau nầy nó lớn nhanh cuồi cuội, khỏe mạnh lắm, chắc là nhờ hưởng nguyên khí của đất trời hoang vu ngày xưa? Khi cha tôi mất, nó khóc lóc thảm thương, đội tang đưa đám đàng hoàng.

Sau nầy tuổi già sức yếu, ông nghỉ chạy xe, về làm từ thiện cho Hội phụ lão trong khu phố rất uy tín, thỉnh thoảng bà con cũng nhờ xử ba cái vụ lặt vặt trong nhà ngoài phố. Một bữa nhà tên Mau mới mua cái máy bơm bị mất trộm, sáng sớm đã la làng um xùm, ông ra xem hiện trường một hồi rồi phán ngay: "Tại mầy!" Nó chưng hửng trợn mắt lại cãi:"Tôi bị mất máy bơm, mà sao Bác Bảy nói kỳ vậy?" Ông phân tích: "Vì mầy không biết giữ của, để cái máy mới toang tần ngần trước cửa khiêu khích bọn đạo tặc, tụi nó lấy là phải rồi?!" Mọi người cười ồ, làm thằng Mau tiu nghỉu bỏ vô nhà. Nói là nói vậy, ông cùng dân phòng âm thầm đi điều tra, sau bắt được tên đạo chích nầy. Hoá ra là thằng Đô La ở đầu phố, bà con ở xóm kêu nó thằng Đô La vì khi nó uống rượu tuy không quậy phá ai nhưng tới ĐôLa lên um xùm, nhà nó nghèo vợ con nheo nhóc. Ban quản lý đề nghị cho nó đi cải tạo, nó khóc quá trời, ông mũi lòng nhận bảo lãnh để giáo hoá nó, ông còn sai tôi vác cái xe đạp trành cho nó để đi làm phụ hồ.

Từ khi ông mất, chiếc bàn đá cũng xuống cấp nhiều, bàn mica, bàn nhôm đẹp đẽ bán thiếu gì ngoài chợ nhưng chúng tôi không dám thay, còn bọn trẻ thì chả biết gì về chuyện xưa tích cũ, đòi xử lý chiếc bàn đá hoài. Tôi ê chề với cảnh con cái, suốt ngày phải đi sớm về khuya, cày bừa kiếm cơm cho gia đình. Bọn trẻ đâu biết rằng chiếc bàn đá là một vật thiêng liêng đối với tôi, nó là một thiên niên sử của gia đình, mà ở đó tôi cảm thấy ấm lại khi nhớ về ba tôi và một thuở xa xưa vẫn còn sống mãi trong ký ức…

Ngữ Yên