Công ty đồ hộp, nơi tôi làm việc gần 20 năm qua, thua lỗ vì bị cạnh tranh không công bằng và bất chính của nhóm Tàu Cộng. Công ty bắt đầu thải bớt nhân viên và đóng cửa vài chi nhánh. Khác với sự ủ rũ và buồn bã của nhiều đồng nghiệp, tôi cầm tờ giấy mất việc trên tay ở cái tuổi 62 với một sự dửng dưng và bình thản. Thản nhiên là phải vì tôi biết ngày này sẽ đến, không sớm thì muộn, và có lo lắng mấy cũng không tránh được. Dù sao đi nữa, đối với tôi, thì chuyện gì rồi cũng sẽ qua mà. 

Đúng vậy, thi rớt Tú Tài là một thất vọng lớn cho tôi, nhưng rồi giai đoạn đó cũng qua. Nhập ngũ, ra trường với cái lon Trung Sĩ, đánh đấm chưa được bao lâu thì mất nước. Thất vọng thật nhiều nhưng rồi cũng qua. Sau cái ngày đen tối năm 1975, cuộc sống phải nói đói khổ hơn con chó và phải sống với một bọn côn đồ, ngu ác, hèn hạ, vô liêm sỉ Cộng Sản, thất vọng đã đến tận cùng, nhưng rồi cũng qua. Hôm nay mất công việc mà mình gắn bó trong suốt 20 năm sẽ chỉ là một gợn sóng nhỏ. Rồi cũng qua thôi. Điều đáng nói là từ hôm nay tôi sẽ bắt đầu một con đường đã vạch ra, sau lần gia đình tôi đi qua một khúc quanh lớn, mặc dầu bây giờ sớm hơn dự định vài năm. Cái mộng thật bình thường và trong tầm tay với, đó là trở về căn nhà cũ với mảnh vườn trồng rau sau nhà. 

* * *

Ngày đó mới vượt biên chân ướt chân ráo tới Mỹ, gia đình tôi được nhà thờ Công Giáo bảo trợ đưa về sinh sống vùng nông thôn ngoại ô thành phố Duncan thuộc tiểu bang Oklahoma. Thật may mắn vì chỉ khoảng 2 tuần lễ là tôi kiếm được việc làm lao động cho một công ty dầu khí ở đây, mặc dầu trình độ Anh Văn khá khiêm nhường.  Do giá sinh hoạt vùng quê thường rất thấp, trong khi đồng lương từ hãng dầu tương đối trung bình và lại có nhiều tiền phụ trội từ việc làm thêm giờ (overtime), cuộc sống gia đình trở nên khá dễ thở chẳng bù lại những ngày cực kỳ khó khăn chạy cơm từng bữa, và bữa đói bữa no với khoai độn bo bo và gạo mốc, sau ngày đổi đời năm 1975. Chỉ vài năm dành dụm, vợ chồng tôi mua trả góp được căn nhà nhỏ ở cuối quận hạt kế một cánh đồng có một rạch nước dài khá sâu. Hương, vợ tôi, trồng vài loại hoa trước nhà, nhưng tôi thì chú tâm vào cái vườn trồng rau sau nhà tiếp cận với rạch nước, có lẽ trong tiềm thức vẫn ẩn chứa sự lo lắng sợ hãi đói kém trong các năm 1976 – 1978 (thật ra sau năm 1978 người dân vẫn đói rã họng, nhưng lúc đó chúng tôi đã vượt biên khỏi ách Cộng Sản). Tôi trồng đủ thứ nào là cà chua, bắp cải, sà lách, bầu, bí, rau thơm, khổ qua...

Cái kỳ lạ là nơi tôi ở, sau mỗi cơn mưa không hiểu tại sao có rất nhiều rùa con bò ra đầy đường, và rồi một số lớn bị xe hơi cán chết. Như thường lệ các buổi sáng cuối tuần tôi bước ra đường lượm mấy chú rùa con nào bị xe cán mà chưa chết vào để phía sau vườn dưỡng thương. Sau khi hồi phục, rùa tự động bò xuống rạch. Con nào chết thì tôi chôn chúng ngay cuối vườn. Thỉnh thoảng rùa từ dưới lạch cũng bò lên vườn kiếm ăn. Lúc đầu thì thỉnh thoảng cả tuần mới có một hai con, nhưng một thời gian sau, chúng đến nhiều hơn. Cái thú của tôi vào cuối tuần là ngồi uống cà phê, ngắm rau quả, chim chóc và đặc biệt ngắm các chú rùa con tới ăn sà lách hay cà chua rụng trong vườn. Tôi thường nói đùa với Hương việc rùa đến là hàng xóm đến thăm. Hàng xóm thật thì cũng có nhưng cách vài trăm mét mới có một vài nhà vì đây là vùng thôn quê đất rộng người thưa. Cuộc sống khá yên bình, thành thật mà nói như vậy.

Một đêm mùa thu năm 1985 mưa lớn lắm. Mực nước dưới rạch dâng thật cao và ngập hơn nửa khu đất sau nhà. Sáng ra thấy bao nhiêu là rùa đầy vườn. Cà chua, bắp cải và sà lách trong vườn bị ăn sạch. Thấy tình cảnh như vậy, giống như lúc gia đình tôi đói khổ không có gì để ăn sau cái ngày tai nạn ập xuống đất nước VN, tôi ra chợ mua cà chua và xin được nửa thùng sà lách dập về cho rùa ăn. Trong số vài trăm con rùa trong vườn, có một con rùa khá già với bộ mai lớn trên lưng màu nâu bạc, dầy, cứng, và sần sùi. Con rùa già này nổi bật khi đi chung với các rùa con khác, vì rùa con thì nhỏ hơn với cái mai còn mỏng, đậm màu, và tương đối cong phẳng đều. Thêm nữa là con rùa già này có khuôn mặt khá dữ tợn và hai chân trước thật to. Hương không muốn tôi đến gần con rùa già vì nghe nói rùa có thể cắn đứt ngón tay hay ngón chân người cho ăn, và cũng nghe nói là vết cắn có thể làm độc làm hư hại mạch máu. Hương muốn tôi ngăn lưới không cho rùa vào vườn phá rau, và dùng bột ớt trộn với rau cải để làm chúng sợ. Làm sao tôi làm được việc đó? Tôi không thể làm. Tàn nhẫn quá. Tôi không nỡ làm hại con vật nhỏ như thế này. Vả lại rau cỏ chúng ăn cũng chỉ là rau hay cà chua dư trong vườn. Chấm hết. Ngay như với người không cùng giới tuyến, chỉ trừ những khi hai bên đối đầu ngoài chiến tuyến, tôi đã không giết hay hành hạ họ khi họ dưới tay mình. Ngày xưa khi bắt được mấy tên Việt Cộng nằm vùng, tôi cho ăn uống, khuyên họ hồi chánh, rồi giao lên cấp trên xét xử. Nay với mấy con rùa con, không khi nào. Hương có vẻ giận vì không nghe lời nàng khuyên. Trái lại tôi còn ra tiệm thực phẩm Winn-Dixie dưới phố xin rau hư, rau phế thải, cà chua dập... về cho rùa ăn khi vườn không có đủ rau. Khi không xin được thì tôi bỏ tiền túi ra mua. Tôi luôn nghĩ một cách khôi hài là chúng đến vườn kiếm ăn là đến thăm tôi vì tôi là "nice guy" và vì tôi là lính VNCH.

Con rùa già này thỉnh thoảng trở lại vườn. Rất dễ nhận ra vì nó khác hẳn các rùa con. Vì lâu lâu mới gặp lại, tôi nhân cách hóa nó và nói giỡn như là "Chào ông già. Sao lâu quá không thấy", "Ông già lúc này khỏe không?", hay là "Ông già ơi, lúc này có gì lạ không?", và rồi tôi mang ra thêm đồ ăn cho con rùa già đó. Chúng tôi "get along well" vì chả bao giờ cãi nhau cả. Lâu lâu không thấy thì tôi cũng nhớ nó. Rồi sau cùng nó cũng đến. Khi "ông già" tới, thường không nói năng gì cả, chỉ ăn cho no, rồi đi xuống rạch, nhưng trước khi đi hình như là "ông già" còn ngoái cổ lại nhìn tôi như cám ơn.  Chắc là "ông già" nói cám ơn, nhưng tôi không biết tiếng rùa để mà hiểu. Những khi đó, tôi thường tự trả lời "Không có chi. Ông già nhớ tới nữa nhe. Tôi chờ đó."

Thời gian đúng là không chờ đợi ai. Mới đó là đã gần 10 năm ở căn nhà này. Phúc, con trai tôi đã tốt nghiệp trung học, học xong 2 năm đại học cộng đồng, và sửa soạn nhập ngũ vào quân đội. Nó thích đi lính như bố nó hồi ở VN. Phúc nói ngày xưa mỗi khi tôi nghỉ phép về thăm nhà nó thấy tôi oai phong lắm trong bộ quân phục nhà binh, và nó muốn theo gót chân Bố sau này. Hương, vợ tôi, có vẻ không đồng ý, muốn con học ra Kỹ Sư, Luật Sư hay Bác Sĩ. Tôi thì thương con, nên con muốn làm gì cũng được miễn sao nó vui nó thích, vì đây là cuộc đời nó. Quan niệm của tôi là với hai bàn tay và bộ óc sáng suốt thì không lo đói. Thêm nữa cuộc sống bên này đâu có ai chết đói mà phải lo. 

Sau khi nó nhập ngũ, nhà trở nên trống vắng, và tôi ra vườn nhiều hơn. Cũng khá lâu tôi không gặp "ông già". Tôi lại trồng thêm vài loại rau khác để hy vọng đổi món cho "ông già" và nhóm rùa con. Mỗi khi mưa to gió lớn là tôi lại nhìn ra vườn xem có nhiều "khách" đến thăm không.

Thời gian tiếp tục trôi. Hôm đó sau một ngày làm việc vất vả ở sở, tôi mệt mỏi ngồi nghỉ xả hơi trên cái ghế dài trong vườn sau nhà. Bỗng tôi thấy một ông lão đầu đội nón lá, mình mặc một bộ đồ nâu bạc phếch, và chân đi đất, bước vào nhà. Tôi thật ngạc nhiên, chưa kịp nói gì thì ông lão bắt đầu:

- Già xin chào Ngài. Hôm nay có dịp về ngang thăm và nói lời cám ơn. Nếu có gì có thể giúp Ngài, Già sẽ cố gắng. Bây giờ xin phép, Già phải đi ngay vì có việc quan trọng.

Nói xong ông quay lưng đi ra cửa rất là vội vã.

- ... Nhưng mà ông là ai ?

Tôi chạy theo ra cửa, nhưng vấp té và thức dậy. Thấy Hương ngồi kế bên và đang lay vai tôi:

- Anh nằm mơ thấy gì mà cứ ú ớ như ai bóp cổ vậy.

- Anh mệt và ngủ quên. Nằm mơ nhưng không nhớ rõ là chuyện gì.

Tôi không nói cho Hương biết về giấc mơ vì câu chuyện không ra đâu vào đâu. Nói ra chỉ làm Hương sợ và nghi ngờ vùng đất này có vong, có âm khí, hay có ma.

***

Gia đình tôi tiếp tục ở đây thêm 2 năm sau ngày Phúc nhập ngũ.  Rồi chúng tôi dọn về gần Oklahoma City làm việc cho công ty làm đồ hộp, vì công ty dầu thải nhân viên do giá dầu tụt dốc trong những năm cuối của thập niên 80. Trong hai năm đó, nhiều "khách" đến thăm, nhưng "ông già" thì biệt vô âm tín.

Phúc được chính phủ gởi qua Trung Đông giúp giữ an toàn cho khu vực này. Sau bao nhiêu lần đụng trận với nhiều nhóm Hồi Giáo quá khích (ISIS), Phúc bị thương và bị bắt sống trong lần tiểu đội của nó bị phục kích và hết đạn. Thế nhưng chỉ ba ngày sau, Phúc bỏ trốn khi hai tên ác ôn Hồi Giáo gác tù ngủ quên. Nhóm ISIS khi phát giác không kịp đuổỉ theo vì bão cát đang di chuyển đến quá gần, trong khi Phúc chạy thẳng vào cơn bão cát tối thui để ẩn mình. Chuyện xẩy ra như trong cơn mơ. Sau đó Phúc được cứu thoát trong lúc trốn chạy, và được thuyên chuyển về Trại Lính Fort Sill ở Lawton, Oklahoma.

Khi nghe tin con thoát chết, bị thương và thuyên chuyển về Ft Sill cách nhà khoảng 85 dặm, vợ tôi lái xe chạy thẳng tới Fort Sill thăm con mà không chờ tới chiều đợi tôi đi làm về rồi đi chung. Khi đi gần tới Lawton, bị hai người Mễ say rượu lái xe ngược chiều ở tốc độ cao đụng thẳng vào xe vợ tôi. Đầu xe bẹp dúm, kiếng xe vỡ vụn, nhưng Hương chỉ bị thương nhẹ vì các mảnh thủy tinh văng vào hai cánh tay đặt trên tay lái. Lạ lùng là mặt mũi và thân mình Hương không bị gì hết. Hương xỉu vì chấn động quá mạnh. Nàng được đưa vào phòng cấp cứu. Một trong hai người Mễ say rượu lái xe đã chết ngay tại chỗ.

Khi tôi đến, 6 tiếng đồng hồ sau, thì Hương đã nằm trong phòng hồi sức. Thấy tôi tới, Hương mừng lắm. Hai tay nàng được băng bó cẩn thận. Hương kể là xe bị đụng rất mạnh và bị hư hoàn toàn. Lúc tai nạn xẩy ra, vì đụng quá mạnh, cái gối lớn đằng sau xe văng tới trước và che trước mặt Hương, thành ra mặt, cổ và thân trên không bị miểng kiếng văng vào. Cám ơn Trời Phật che chở cho vợ tôi. Phúc có vào thăm mẹ trước đó 3 tiếng, và đã phải trở về trại. Phúc kể cho mẹ là khi cơn bão cát di chuyển tới gần trong lúc hai tên gác tù lại ngủ say như chết vì hành quân suốt đêm trước, Phúc lợi dụng cơ hội cắt giây trói và trốn đi. Không may là Phúc bị vấp vào miếng ván và gây tiếng động làm một tên gác tù thức dậy. Hắn chỉa súng vào Phúc và bắn, nhưng không hiểu sao, hắn ngã xóng xoài khi bóp cò. Viên đạn ghim vào mặt đất cách chân Phúc cả thước. Thoát chết, Phúc chạy xuyên vào trong cơn bão cát. Chạy liên tục cho tới khi trời tối, rồi Phúc trốn trong một cái lều bỏ hoang. Sáng hôm sau, cơn bão đã dứt, và có tiếng người lao xao bên ngoài. Nhìn ra thì thấy một tiểu đội lính Mỹ đang di chuyển tới gần. Phúc được cứu và đưa về trại.

Ngồi với Hương hơn nửa tiếng, tôi bắt đầu cảm thấy đói. Khuyên Hương ngủ một chút để lấy lại sức, trong khi tôi ra ngoài kiếm chút đồ ăn nhanh dằn bụng. Khi trở lại nhà thương, Hương vẫn còn ngủ. Tôi ngồi dựa vào cái ghế bành trong phòng nghỉ ngơi. Khi đó cửa phòng bỗng chợt mở, và một ông lão nhìn khá quen thuộc, đầu đội nón lá, mình mặc bộ đồ nâu, dáng dấp khỏe mạnh, bước vào phòng. Đúng là ông lão tôi thấy trong giấc mơ năm nào.

- Già ghé chào Ngài, vì Già sắp phải đi xa.

- Hình như tôi có gặp ông một lần cách đây vài năm.  Ông là ai? 

- Thật ra Ngài đã gặp Già nhiều lần. Già mang ơn Ngài đã giúp cho bao nhiêu con cháu của Già khi tụi nó tới…

- Thì ra ông là...

- Vâng, chính là Già. Già nguyện là sẽ giúp Ngài khi có thể. Nay Già đã hoàn thành công việc, và giờ phài đi xa.

- Tôi không hiểu ông đang nói gì ?

- Vâng, chính Già đã làm tên cai tù té để giúp con trai Ngài. Chính Già đã làm cái gối lớn văng lên phía trước để cứu vợ Ngài khi tai nạn xảy ra. Già làm được điều đó vì hồng phúc của Ngài lớn lắm, đã che chở cho cả gia đình. Giờ, xin chào Ngài. Đã đến lúc Già phải đi.

Nói xong ông lão bước ra khỏi phòng.  Tôi vội vã chạy theo ra,

- Này ông... khoan đi.

- "Anh lại nằm mơ rồi.  Mỗi khi mệt là anh như có ác mộng".  Hương nói.

Tôi giựt mình thức dậy, thấy mình ngồi trên cái ghế bành trong phòng Hương. Thì ra đó là cơn mơ.

- Anh nằm mơ thấy gì?

- Không có gì rõ ràng.  Em thấy đỡ chưa?

Mặc dầu nói vậy, nhưng trong thâm tâm, hôm nào Hương khỏe lại, tôi sẽ kể cho nàng nghe. Không tiện kể ra lúc này khi nàng đang trong giai đoạn hồi sức.

Sau lần nằm mơ đó, tôi thường nghĩ về cái vườn rau sau nhà ở vùng thôn quê khi mới tới cái quê hương thứ hai này. Đó là nơi mà tôi có diễm phúc gặp, giúp đỡ và làm bạn với bao nhiêu "người hàng xóm nhỏ, hiền lành và chậm chạp". Tôi bắt đầu suy nghĩ về phước đức, quả báo, luật nhân quả và bàn tay vô hình của Tạo Hóa. Càng nghĩ thì trong lòng lại càng thôi thúc muốn về lại sống êm đềm với mảnh vườn ấy, khi tôi về hưu. Ngày đó không còn xa nữa đâu.

***

Khi sắp rời bãi đậu xe ở công ty đồ hộp, tôi gọi cho Hương:

- Em ơi, hôm nay công ty loan báo là ngày cuối cùng anh làm ở đây.

- Anh có buồn không?

- Không...  biết là ngày này sẽ tới. Không tránh khỏi đâu. Buồn làm gì.

- Ừ, anh nói cũng phải, nhưng thôi, từ từ kiếm việc khác vậy.

- Anh thì nghĩ khác. Trong 20 năm qua, anh để dành vacation và sick leave được 6 tháng. Công ty lại giúp cho 12 tháng lương đền bù vì có thâm niên. Thêm nữa nếu em xin nghỉ công ty em đang làm, em sẽ được khoảng 6 tháng lương trợ cấp. Em thấy không? Sơ sơ 2 năm tới dù nghỉ mà mình vẫn có lương. Đó là chưa kể sau đó Chính Phủ liên bang có thể giúp đỡ. Ngoài ra cuộc sống ở nông thôn, như em đã biết, vật giá khá rẻ. Sau giai đoạn này, anh tới tuổi về hưu. Khi đó sẽ có an sinh xã hội và y tế. Gia đình mình cũng đã làm việc trên quê hương thứ hai này vài chục năm, và đóng thuế đầy đủ. Mình có ăn bám ai đâu. 

Có lẽ... đây là món quà Trời ban cho mình do ăn hiền ở lành. Món quà thật vô giá. Mình được nghỉ hưu sớm có lương khi còn khỏe mạnh. Anh còn nhớ em thích đi Hawaii chơi và muốn đi du thuyền miền Trung Mỹ. Còn anh thì thích đi Ấn Độ một lần cho biết nơi Phật đắc đạo. Anh cũng muốn đi thăm đền Đế Thiên Đế Thích bên Cam Bốt. Đây là lúc mình bắt đầu khởi hành cho cuộc đời mới và làm những gì mình muốn.

- À quên, Hương ơi, em còn định học Piano nữa không? 

 

Nguyễn Bá Hùng
MS 2 Khóa 4 - NLS BD
Một ngày buồn... Seattle, WA, USA