{jcomments on}alt

Mùa hè năm vừa rồi tôi đã cùng với Mẹ tôi về Sài Gòn thăm họ hàng thân thích bên Ngoại, và có một việc quan trọng phải làm là giúp Mẹ tôi mang tro cốt của Cha tôi về thành phố Portland, nơi mà Mẹ tôi sẽ an nghỉ sau nầy, và muốn Ông nằm cạnh với . Có thể với ai đó khi nhắm mắt muốn trở lại Việt Nam, an nghỉ trên mảnh đất quê hương của mình, còn với Mẹ tôi thì Bà lại nghĩ nơi đây cũng là quê hương thứ hai của Bà nên có ý không cần phải đưa Bà đi xa. Hiện tại Bà ao ước được thăm viếng, chăm sóc phần mộ Ông trong lúc Bà còn sống trên cõi đời nầy. Vì vậy chúng tôi đã giúp thực hiện được ước muốn.

Ngày 17 tháng 6 tới đây chúng ta sẽ có “Lễ vinh danh các người Cha”. Không nhất thiết đợi đến ngày này chúng ta mới nhớ lại, mới yêu thương Cha, nhưng ngày này nhắc nhở chúng ta tìm lại nguồn cội, để biết ân nghĩa sinh thành của người Cha to lớn biết bao. Qua trang giấy nầy tôi xin gởi gấm những hồi ức đầy tình yêu thương và nước mắt về người Cha đã quá cố của chúng tôi, như một chút kỷ niệm về cuộc đời của Ông. Đã gọi là cuộc đời thì rất khó có sự hoàn mỹ, nhưng sự không toàn vẹn sẽ làm những ưu điểm được nổi bật để con người cùng nhắm vào những điều tốt đẹp đó mà vươn tới, tạo cho đời sống của mình có ý nghĩa hơn.

Tôi nhớ có một người bạn kể câu chuyện vui, tại cơ quan Bưu Điện o ngày lễ Mother’s Day thì bộ phận đin thoại đường dài được chuông reo liên tục, đường dây bận suốt ngày, và tất cả những cuộc gọi đều là “người gọi trả tiền". Còn ngày lễ Father’s Day thì đin thoại đường dài làm việc thưa thớt, thỉnh thoảng mới có vài người con gọi về hỏi thăm, chúc mừng Cha của mình, và tất cả các cuộc gọi đều là “người nhận trả tiền”.

Thời thơ ấu của tôi có rất ít ấn tượng về Cha tôi. Sau nầy khi lớn lên, bước chân vào Trung Học, với những hoàn cảnh thay đổi trong cuộc sống, và qua nhiều sự bất ổn trong gia đình, chúng tôi mới nghe và hiểu nhiều hơn về đời sống gia đình và đặc biệt là về Cha của tôi.

Cha tôi xuất thân là một quân nhân, thời thanh niên Cha tốt nghiệp trung học trường Pháp. Gia đình bên Nội của tôi tương đối khá giả nên có mời thầy giáo đến nhà dạy kèm về văn thơ, âm nhạc cho Cha và mấy Chú. Ông có dáng người cao ráo, đẹp trai, lời nói đỉnh đạc, uyên bác, chơi đàn giỏi, ca vọng cổ cũng hay, nên thường là đối tượng cho các phụ nữ để ý tới. Có thể đó cũng là một trong những nguyên nhân cho sự thất bại về hôn nhân của Ông. Mẹ tôi là người vợ chính thức thứ 3 của Ông, tôi là đứa con đầu lòng của Mẹ và là đứa con thứ 4 trong đại gia đình. Có lẽ vì đông con, Cha không có sự nôn nao, mừng rỡ khi được tin đứa con yêu sinh ra đời. Được biết vì công việc Cha tôi thường xuyên đi vắng nhà, Mẹ ở nhà quán xuyến mọi việc, ngay vào thời gian sinh ra tôi cũng chỉ có bà Ngoại đến đưa Mẹ vào nhà sanh. Khi Cha về nhà biết được Mẹ sinh con gái, ghé vào phòng hỏi thăm Mẹ vài câu sức khỏe rồi lại đi…Lúc chúng tôi còn nhỏ, Cha là một người nghiêm khắc, cứng rắn trước mặt vợ con. Mỗi khi mừng Cha đi làm về, hay ngày nghỉ muốn đến gần Cha để được cưng chiều như các đứa trẻ khác, thì chúng tôi phải chăm sóc mặt mày, quần áo tươm tất, sạch sẽ. Trong bửa ăn phải ngồi tề tựu nghiêm chỉnh, nếu quậy khóc hay đòi hỏi linh tinh là bị đưa ra nhà sau và lần sau đừng có hy vọng gần Cha. Buổi trưa hay ba tối sau khi học hoặc làm bài xong là phải vào giường ngủ đúng giờ, chúng tôi nói chuyện, giỡn hớt to tiếng sẽ bị phạt quì gối, đôi lúc bị phạt đứng ngoài sân, có khi vì sợ quá chúng tôi khóc sưng cả mắt.

Chính vì những điều nầy nên mỗi khi Cha vắng nhà thì chị em chúng tôi mừng lắm, được trốn ngủ trưa để chơi đánh đủa, chơi ô quan, buổi tối sau giờ học bài chúng tôi chạy sang hàng xóm chơi cút bắt, nhảy dây với bạn, và còn được ngã vào lòng mẹ mè nheo, vòi vĩnh. Chúng tôi đâu có biết khi Cha thường xuyên vắng nhà, chúng tôi vui thích bao nhiêu thì Mẹ càng đau khổ bấy nhiêu. Sau nầy, lớn lên, hiểu biết nhiều hơn và nhìn thấu được vấn đề, chuyện quá khứ đã dằn vật tâm tư chúng tôi không ít.

Dẫu sao đời người cũng có những lúc thăng trầm. Khi chúng tôi vào Trung Học cấp III, công việc làm của Cha tôi gặp nhiều thất bại, trong cơ quan có nhiều sự ganh tỵ, cạnh tranh. Cha phải đổi nơi làm việc nhiều lần, và dừng chân ở trạm cuối là Sài Gòn, chuẩn bị cho ngày về hưu. Rồi chiến tranh kết thúc, chưa nhận giấy hưu trí, Cha tôi cũng như những sĩ quan khác phải vào trại cải tạo tập trung. Trăm dâu đổ đầu tằm, mọi gánh nặng trong gia đình được giao lại cho Mẹ tôi gánh vác…và tôi cũng phải nhập cuộc đỡ đần với Mẹ.

Ba năm sau, Cha tôi được trở về đoàn tụ với gia đình, với lý do là sức khỏe yếu và học tập tốt. Quyển sổ đời đã lật sang trang mới. Mẹ giờ là người chủ gia đinh, và Cha tôi trở thành người phụ việc cho Mẹ tôi, xin nói thêm là Mẹ tôi nhỏ hơn Cha 10 tuổi. Và cũng chính thời gian nầy chúng tôi mới gần gũi, thấu suốt, thông cảm cuộc đời và thương Cha tôi nhiều hơn.

Cha vốn là một người giàu tình cảm, có tính nghệ sĩ, là người xem trọng tình cảm và nghĩa khí với bạn bè. Ông luôn giúp đỡ người yếu thế, hoạn nạn, và chính vì vậy mà khi quay trở về xóm cũ, ai ai cũng hỏi thăm và nói tốt về Ông. Trước mặt chúng tôi giờ đây Ông là một ông già gầy nhom. Buổi sáng sớm nghe tiếng chổi quét sân của Ông, thỉnh thoảng nghe tiếng chào hỏi của những người hàng xóm đi chợ ngang. Ông dạy Đạo Đức Kinh cho cháu ngoại, dẫn cháu đi chơi, tự chăm sóc cho bản thân mình, điếu thuốc thơm ngày nào tỏa khói trên môi, giờ là điếu thuốc rê bập bập. Ông hay chừa một chút của điếu thuốc, dán vào góc tường khi cần thì đem xuống dồn lại hút tiếp. Hình ảnh một quân nhân với bộ quân phục ủi hồ thẳng nếp đã không còn nhìn thấy nữa, mỗi lần Mẹ mang hàng hóa về nhà, gồm những nông sản từ quê BT, thì công việc khuân vác, phân phối, thu dọn vệ sinh đều do Cha tôi làm tất cả, thỉnh thoảng Ông còn nói “lao động là vinh quang, lang thang là chết đói”.

Tưởng chừng như mọi việc được êm ả thì mấy năm sau đó Cha rơi vào tình trạng nhủn não. Mặc dù các Bác sĩ trong bệnh viện Chợ Rẫy đã tận tình chữa trị, nhưng do tuổi cao, suy nhược cơ thể từ lúc vào trại cải tạo, nên họ đành bó tay. Kể từ đó, tay chân Cha không còn hoạt động được nữa, tuy rằng chuyện gì cũng hiểu, cũng nói và diễn đạt được, nhưng mọi cử động phải nhờ người khác giúp đỡ. Về sau, những bệnh khác ăn theo như là suy tim, rối loạn tiêu hóa, làm thân thể Ông ngày một kiệt sức.

Ngày hôm đó Ông ca một câu vọng cổ “Mùa Xuân nhớ Mẹ” do Ông viết lúc ngồi tù cải tạo. Ông gọi Mẹ tôi và chúng tôi đến gần và nói: “Bà à! Tôi biết mình đã có nhiều thiếu sót, làm cho bà và các con buồn khổ, hãy tha thứ cho tôi, thay tôi chăm sóc, yêu thương các con dùm tôi nhé.”

Ông mất vào lúc 7g30 sáng hôm sau, thọ 72 tuổi, sau cơn mệt tim và sau 6 tháng phải nằm một chổ. Ngay ngày hôm đó lúc 9 giờ sáng, có thơ của tòa Đại Sứ gọi Ông phỏng vấn sang Mỹ định cư.

Tôi tưởng niệm sự ra đi của Cha tôi, và cũng muốn kể lại cho các bạn nghe về sự kết thúc của một đời người. Không ai biết được ngày mai của mình ra sao, chúng ta chỉ có thể biết được hiện tại trước mắt. Mức đến của chúng ta cũng chẳng còn xa, xin hãy vun trồng những hạt giống vui vẻ, yêu thương cho mình và những người xung quanh. Hãy mở rộng tấm lòng bao dung, yêu người, yêu đời.

Chúc các bạn ngày lễ Cha bình an và nhiều hạnh phúc.

CN