Vì xa xôi lại thêm trẻo lối nên tôi ít được gặp Thầy Huỳnh Kim Ngọc, Cựu Hiệu Trưởng của Trường. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi thăm nhau. Như phần đông người xa xứ, đồng bệnh, mỗi ngày mỗi trầm kha hơn, chuyện vãn giữa chúng tôi, quẩn quanh rồi cũng quay về quãng đời cũ, chốn cũ. Dịp anh em NLS Bình Dương Hải Ngoại chung sức thực hiện Đặc San, Thầy Ngọc và tôi liên lạc nhặt hơn, nhắc nhiều về Trường, khá nhiều về Thầy Trần Hồng Đức, người Thầy kỳ cựu nhất của Trường NLS BD.
 
Thầy Ngọc cho biết, “Vào khoảng sắp hè năm 1967 được bổ nhiệm về Trường, lúc ấy Trường chỉ vỏn vẹn hai lớp Tám đang học những ngày cuối của niên học 1966-1967. Anh Trần Hồng Đức đang giữ chức vụ Xử Lý Thường Vụ Hiệu Trưởng. Nể trọng người tiền nhiệm lớn tuổi hơn, kinh nghiệm về địa phương nhiều hơn, hơn nữa, sự từ tốn, điềm đạm, chín chắn của anh Đức làm tôi tin cậy. Mỗi khi gặp khó khăn trong việc quản trị Trường, tôi hay tham khảo ý kiến anh Đức. Vốn kỹ lưỡng, cân nhắc trước khi đề nghị phương cách giải quyết hay đối phó, lời khuyên của anh Đức đã giúp tôi rất nhiều.”
 
Đơn cử, Thầy Ngọc kể việc học trò hay trễ giờ. Thầy Đức khuyên không nên quá cứng rắn, vẫn phải nhắc nhở, vẫn phải dùng vài biện pháp nhưng chỉ nên răn đe, giơ cao đánh khẽ mà thôi. Đến lớp trễ do lười biếng cũng có, nhưng khá nhiều trường hợp cần sự cảm thông vì phương tiện di chuyển cá nhân không phải ai cũng có; phương tiện xe đò, xe lam vừa ít, lại vừa không có giờ giấc.Một số em ở những làng xã xa xôi, kém an ninh nên không thể rời nhà quá sớm. Nhiều em phải dậy từ sáng sớm phụ gia đình trước khi đến trường. Nhiều hoàn cảnh khiến các em trễ giờ, nên chịu khó tìm hiểu hơn là đưa ra hình phạt chung cứng ngắc; điều đó sẽ tạo thêm khó khăn cho các em, khiến các em nản chí, bỏ học. Lời khuyên đầy lý tình, sát với thực tế ấy đã được Thầy Ngọc sử dụng và hình như trở thành nếp cho những năm tháng sau đó.
 
Ghi những dòng trên làm tôi chợt nhớ, những lớp tôi dạy vài em thường vô lớp trễ. Hỏi thăm và được biết các em ấy phải thức thật sớm phụ cha mẹ, hoặc dọn hàng hay việc đồng áng, xong việc mới vội vã đến trường. Nhìn lưng áo các em đẫm ướt mồ hôi, lòng dạ nào để một ai có thể tạo thêm khó khăn trong khi nỗi cơ cầu đè nặng trên vai các em!
 
Tâm tình tiếp về Thầy Đức, Thầy Ngọc đôi lần lập lại, “Anh Đức, một người thầy mẫu mực, đạo đức, một nhà mô phạm đúng nghĩa, tính tình khoan hòa nên ai cũng quý mến. Thật tiếc trong thời gian phục vụ chung tại Trường, vì cả hai quá bận rộn với công việc và gia đình nên chúng tôi không gần gũi, thân thiết nhau hơn, chỉ thuần công việc. Sau này tôi được chuyển về Nha, sau đó rời nước và giờ đây muốn gần gũi cũng không còn dịp, muốn thăm nhau càng không dễ thực hiện.”
 
Không chỉ riêng Thầy Ngọc, nhiều thầy cô khác cũng bày tỏ tương tự về người bạn đồng nghiệp của mình. Một trong những người có nhiều năm tháng cận kề, Thầy Phạm Văn Nê cho biết, “Anh Đức hiền lành, tử tế, luôn thân tình với người xung quanh nên ai cũng quý trọng anh.”
 
Thầy Trần Tấn Miêng, người được bổ nhiệm về Trường khá sớm, nói ý nghĩ của mình khi được hỏi: “Sau quãng thời gian dài mấy mươi năm tiếp xúc, liên lạc thường xuyên, được dịp quan sát cách đối xử của anh Trần Hồng Đức với bạn bè, người thân và học trò làm tôi càng nể trọng anh hơn. Tôi ngưỡng mộ anh như người thầy, người anh của mình.”
 
Quả thế, về tuổi tác Thầy Đức có thể lớn hơn những vị thầy dạy học của hầu hết thầy cô trẻ, ngay cả những vị được bổ nhiệm về Trường ở những đợt đầu vào năm 1969. Hầu hết họ ở khoảng tuổi ngoài đôi mươi; khi ấy Thầy Đức đã xấp xỉ bốn mươi, với tính tình cởi mở, khoan hòa, sự đạo mạo, chín chắn, không chỉ riêng Thầy Miêng, Thầy Nê, đa số chúng tôi vừa quý mến, vừa kính nể Thầy Đức như người anh, người thầy.
 
Dù không thật thân thiết nhưng gần sáu năm phục vụ chung tại Trường, tôi được một số dịp gần gũi, giao tiếp thân tình. Sau 75 sống đời lưu lạc chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau. Thỉnh thoảng đó đây gặp một số bạn đồng nghiệp, khi nhắc về Thầy Đức, ai cũng tỏ lòng cảm mến người đàn anh của mình. Riêng học trò, tôi vẫn thường nghe các em nhắc nhiều về quý Thầy Cô lớn tuổi, nhất là Thầy Đức. Các em cho biết Thầy hiện ở tuổi ngoài tám mươi, đang sống tại Sài Gòn. Có lẽ do sức khỏe kém nên Thầy không còn tham dự những Buổi Họp Mặt của Thầy Trò NLS BD tại quê nhà như trước đây. Vào những tháng sắp Tết vừa qua, tham dự một buổi họp, nghe các em bàn bạc, định dịp Tết sắp đến sẽ cậy bạn bè viếng thăm Thầy Cô lớn tuổi.
 
Chẳng bao lâu sau, tin buồn dồn dập đến; Thầy Bùi Xuân Báu, Thầy Phạm Phi Hoành, lần lượt ra đi. Hai em Nghĩa - Phụng và một số bạn bè cùng Thầy Cô vội nhờ người ở Việt Nam thăm Cô Báu và Thầy Đức.
 
Việc thăm Thầy Đức, may lúc ấy anh Phan Bửu Châu đang ở Việt Nam, nhờ và được anh nhận giúp. Dịp này, Thầy Huỳnh Văn Công từ Úc về thăm Mẹ bệnh nặng, muốn tháp tùng nhưng không thu xếp được. Được đề nghị, anh Châu mời vài Thầy Cô và bạn tháp tùng. Dù Tết khá bận rộn nhưng được Thầy Trần Tấn Miêng, Thầy Tạ Ngọc Sương, Thầy Phạm Anh Tuấn nhận lời mời; phía bạn học được sự nhận lời của anh Nguyễn Văn Hồng, Dương Há, Trần Kim Chi và các chị Trần Thị Thắm, Nguyễn Thị Vui, Nguyễn Thị Phước. Sau khi thăm Thầy Đức, phái đoàn được Thầy Sương hướng dẫn thăm Cô Võ Thị Ngọc Oanh. Hình ảnh buổi thăm viếng ấy đã được Thầy Sương đăng trên Trang Nhà quốc nội khá đầy đủ.
 
Nhắc về buổi thăm viếng đầy tình nghĩa ấy, Thầy Huỳnh Kim Ngọc bảo, “Các bạn khéo chọn ngày mùng ba Tết để thăm anh Đức, cô Oanh, theo phong tục có tự ngàn xưa của mình, Mùng một Tết Cha, mùng hai Tết Mẹ, mùng ba Tết Thầy. Nghĩa tình ấy chẳng những được anh Đức, cô Oanh khắc ghi trong lòng, điều này là niềm hãnh diện chung của chúng ta, thể hiện tình cảm quý mến của đồng nghiệp và sự kính yêu của học trò đối với những người Thầy dạy của mình.”
 
Vâng, đúng thế! Ở thế kỷ trước, giữa làng quê, giữa ruộng đồng có một ngôi trường; nơi đó thầy trò, mỗi người tận lực, ra sức làm tròn phần nhiệm của mình, luôn lấy nghĩa tình đối đãi nhau và nghĩa tình ấy luôn được gìn giữ, luôn được thể hiện dù phải trải qua nhiều cơn ba đào, bão lũ.
 
“Ký Ức Búng,” lời tâm tình của chính mình được Thầy Trần Hồng Đức gởi gắm, nhắc nhớ, về Trường, về Con Người, về Miền Đất hiền hòa ấy. Tất cả luôn ở trong tâm tưởng mỗi chúng ta, mỗi khi nhắc đến, ta thường bảo nhau, “Ngôi Trường, Đất Búng, dù chỉ lưu lại vài năm, nhưng cả đời yêu thương, luyến nhớ.” Phải chăng, những dòng viết nầy khởi đi từ tâm cảnh yêu thương, luyến nhớ ấy, dành riêng cho Người Thầy luôn được thương kính, Người Thầy kỳ cựu nhất của Trường, và cũng là chứng nhân của sự hưng phế, đến Trường khi còn là bãi đất hoang, được dựng lên và bị xóa tên. Nhưng có lẽ điều đáng kể nhất, tình cảm gieo ương từ hơn nửa thế kỷ trước, nay vẫn tồn tại, vẫn vững bền, vẫn nồng nàn, vẫn đậm sâu để ta luôn nghĩ về, luôn nhắc nhớ và cất công tìm kiếm nhau cho dù ngàn trùng xa cách.
 
vtd
(trích Đặc San)