Tôi thường nghe nói trong cuộc đời của mỗi người có 3 thời kỳ: thời niên thiếu, thời trung niên và thời... hồi đó. Bây giờ tôi hay lẩm cẩm, khi nói về một kỷ niệm, tôi thường hay bắt đầu bằng hai từ - Hồi đó.
 
Hồi đó, khi tôi mới chuyển về trường Nông Lâm Súc Bình Dương, mẹ mua cho tôi chiếc xe Suzuki Dame để hàng ngày đi học. Mới đầu tôi vui thích với xe mới, nên không ngại đường xa cảnh lạ, sáng đi chiều về hằng ngày trên con đường thiên lý Sài Gòn–Bình Dương. Có những ngày học hai buổi nên khi lái xe về nhà đường xa thấm mệt, thêm gió hiu hiu làm cơn buồn ngủ dễ ập đến. Tôi lái xe với một mắt nhắm và một mắt cố mở to để nhìn đường, tôi "thăng" theo gió và chỉ giựt mình tỉnh giấc khi con ngựa sắt quăng tôi té xuống. Tôi "bay" trên mặt đường nhựa nóng bỏng dưới ánh nắng chiều, bên cạnh tôi con ngựa sắt không người lái cũng đang bay nghiêng ngã. Sợ quá, tôi ngất đi…
 
Khi tôi tỉnh lại, tôi thấy tôi đang ngồi dựa lưng vào gốc cây bên vệ đường, có ai đó đang cúi xuống, cặp mắt lo lắng, hốt hoảng gọi tên tôi. Ngạc nhiên nghe tiếng gọi tên mình, tôi choàng dậy, toàn thân đau ê ẩm, tay chân đầy những vết trầy xước rướm máu làm tôi không thể đứng dậy, cũng may có "bà độ" nên tôi không bị gẫy tay, gẫy chân. Sực nhớ đến con ngựa sắt, tôi nhìn quanh thấy nó đang đứng yên bên cạnh tôi. Lúc này tôi mới nhận ra có tới 3, 4 cái áo sơ mi nâu đang vây quanh tôi, tôi hiểu ngay đây là những người bạn cùng trường, thấy tôi té xe nên đã cứu giúp, rồi cùng "hộ tống" tôi về đến tận nhà.
 
Sau mấy ngày nằm nhà dưỡng thương, tôi trở lại trường. Tôi nhận ra đôi mắt lo lắng đã nhìn tôi hôm trước, nay như reo vui khi thấy tôi vào lớp. Tôi đọc được tên của đôi mắt đó trên ngực áo, N Đ Dũng. Sau lần té xe, Mẹ tôi sợ quá không dám để tôi lái xe đi học nữa, bà cho phép tôi kiếm một nơi ở trọ gần trường, đi học đến cuối tuần về nhà với Mẹ. Có người chỉ cho tôi đến xin ở trọ nhà Mợ Sáu, một ngôi nhà nhỏ rợp bóng mát dưới những tàng cây vú sữa, gần khu nông trại, nhà có hàng hiên và bậc thềm trước cửa. Mỗi buổi sáng đi học, tôi đều thấy Dũng ngồi trên bậc thềm tự bao giờ. Tôi ôm cặp sách đi trước, Dũng im lặng đi sau tôi một khoảng cách độ vài bước chân, cho đến khi vào lớp. Trưa tan học, Dũng cũng đi theo sau đưa tôi về tận cửa rồi quay đi. Giờ học chiều cũng vậy, Dũng luôn đi sau tôi nhưng không bao giờ nói chuyện. Riết rồi như một thói quen, cứ mỗi buổi sáng trước khi đi học, tôi không cần xem đồng hồ, tôi ra đứng ở cửa sổ nhìn ra hàng hiên, thấy có bóng áo nâu ngồi là tôi vào thay áo đi học.
 
Trong lớp mấy bạn học trai biết chuyện cũng thường hay chọc ghẹo, cáp đôi để đùa giỡn. Những lần thầy gọi tôi lên bảng, khi thầy hỏi tên thì cả đám nhao nhao hét “NĐD”. Rồi khi Dũng lên trả bài, thầy cũng hỏi tên gì, cả đám như chỉ chờ có thế, lại hét ào ào “BTBT” rồi cười vui với nhau. Có một điều tôi không hiểu tại sao cả đám thường gọi tôi là Tiểu Long Nữ mỗi khi nói chuyện có dính dấp đến tôi. Có lẽ các bạn luyện chưởng dữ lắm, hoặc có thể các bạn thấy tôi dữ dằn như vai Tiểu Long Nữ trong Thần Điêu Đại Hiệp chăng? Cùng trọ học trong nhà mợ Sáu có chị Nguyễn Thị Bảy, chị học Canh Nông trên tôi một lớp. Chúng tôi cùng ngủ chung trên bộ ván gõ ngoài phòng khách. Ở đó còn có một cái bàn thờ, có một cây đèn dầu nhỏ được thắp sáng leo lét không bao giờ tắt, bên cạnh còn bày những vật dụng của bà nội, mẹ chồng của mợ Sáu, ưa thích khi còn sống. Trên tường treo những tấm trướng màu đen trắng làm cho cái bàn thờ càng có vẻ âm u thêm. Trước bàn thờ là bộ bàn ghế cũng bằng gõ với 4 cái ghế. Mỗi buổi tối, tôi và chị Bảy cùng ngồi học bài trên bộ bàn ghế này. Dù bận học bài nhưng mắt chúng tôi luôn liếc về phía cái bàn thờ âm u đó. Một buổi tối chị Bảy đi ngủ sớm, tôi còn ngồi học bài, làm bài tập một mình bên cạnh cây đèn dầu nhỏ. Bỗng tôi nghe tiếng thổi phù phù, liếc về phía bàn thờ, tôi rụng rời tay chân, tim đập loạn xạ khi thấy dưới gầm bàn thờ có phủ tấm vải che kín bốn chân bàn, một đốm lửa to bằng hai ngón tay cứ bùng sáng lên theo tiếng thổi phù phù. Hồn vía lên mây, tôi phóng như một mũi tên lao vào bộ ván có mắc cái mùng, trong đó chị Bảy đang ngủ say. Tôi kéo cái mền trùm kín mít toàn thân, co rúm người, run rẩy chờ con ma... kéo chân mình. Nhưng có lẽ con ma thấy tôi sợ quá nên nó bỏ đi mất. Hôm sau gặp Dũng, tôi kể cho Dũng nghe chuyện kinh dị tối đêm qua làm tôi sợ hãi không ngủ được. Dũng suy nghĩ một hồi rồi vấn kế cho tôi, tối nay làm như vầy, như vầy… để bắt ma. Tối đến, tôi và chị Bảy cùng học bài như thường lệ, tôi làm bài tập nhiều nên nán lại học khuya một mình. Tôi chờ đợi đốm lửa lóe sáng với tiếng thổi phù phù, một tay tôi để trên bàn, còn tay kia tôi nắm chặt cây roi mây để trên đùi dưới gầm bàn và hồi hộp chờ... Khi ánh lửa ma trơi phát ra dưới gầm bàn thờ trong bóng tối mờ mờ của cây đèn dầu, tôi phóng tới "múa" roi và nắm cổ con ma từ dưới gầm bàn thờ lôi ra. Con ma sửng sốt, mắt nó tròn xoe vì bị phát hiện ra chân tướng khi trên tay còn cầm một nắm nhang đang cháy đỏ. Tôi nhận ra đó là Hai Tuấn, cậu con trai 12 tuổi của mợ Sáu. Vì không muốn làm kinh động cả nhà đang ngủ say phía nhà sau, tôi buông tay và thuận chân đạp cho con ma một cái, nó vội vàng bỏ chạy. Trưa hôm sau, tôi và Dũng đón đường Hai Tuấn đi học về, kè anh chàng vào khóm gò mả gần khu nông trại, hăm he: “Nếu mày còn nhát ma nữa thì tao cho mày làm ma thật luôn, không cần làm ma giả nữa đâu nghe.” Anh nhỏ sợ quá, khóc mếu máo chạy về nhà mét má: “Chị BT và bạn chỉ hăm giết con má ơi!” Mợ Sáu thương con không thèm hỏi lý do tại sao, mợ la mắng tôi một trận rồi giận không thèm nói chuyện với tôi nữa. Buồn rầu, tôi từ giã chị Bảy, cám ơn Mợ Sáu đã cho tôi những tháng ngày êm đềm trong căn nhà rợp bóng mát của những tàng cây vú sữa. Tôi trở về với con đường xưa, đồng hành cùng con ngựa sắt thân yêu, ngày ngày dong ruổi trên con đường thiên lý Sài Gòn-Bình Dương. 
 
Kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt năm đó, TV ngồi bên cạnh tôi đang lấy chân lật quyển vở đặt dưới sàn nhà để quay bài, bỗng TV co chân đá quyển vở văng vào chân tôi, tôi giựt mình co chân đá văng quyển vở ra ngoài. Vì tôi ngồi đầu bàn còn TV ngồi chính giữa, xui xẻo cho tôi, ông giám thị hành lang đang đi tới đúng lúc tôi đá quyển vở văng ra. Ổng lập tức "mời" tôi đứng lên rồi lập biên bản. Tôi sợ tái xanh không nói được một câu nào để biện hộ cho mình, trong khi TV luôn miệng năn nỉ nho nhỏ: “BT, mày đừng khai tao ra, tao đã rớt một lần rồi, bây giờ rớt nữa, má tao đánh tao chết!” Sau khi biên bản được thành lập, tôi được “mời” ra khỏi lớp. Tôi lái xe về nhà như người mất hồn, tôi đi lang thang mà lòng buồn rười rượi. Đến một quãng vắng, tôi dựng xe vào lề đường rồi ngồi xuống ôm mặt khóc nức nở. Tôi giận tôi sao ngu quá, sao quân tử Tàu quá, im lặng chịu lỗi về phần mình, trong khi có ai biết cho tôi. Chỉ có Bao Công tái thế mới hiểu một người cận thị như tôi làm sao quay bài từ một cuốn vở đặt dưới sàn nhà! Tôi đi học, thầy giảng bài tôi nghe rồi tự viết dàn bài, những công thức thầy viết trên bảng tôi đâu nhìn thấy, sau giờ học tôi thường mượn tập vở của bạn về nhà chép lại. Bây giờ bị oan mà không dám nói, bây giờ TV không chết thì tôi chết vì thất vọng tương lai đang sụp đổ trước mắt, biết nói gì với Mẹ trước cú vấp ngã này? Có một ai đó ngồi xuống bên tôi, tôi ngước lên và nhận ra Dũng, tôi lại òa khóc nức nở.
 
Từ đó tôi chăm học nhiều hơn để chuẩn bị ghi danh đi thi Tú Tài. Mùa hè năm đó, không dám xin tiền Mẹ đóng tiền học luyện thi, tôi đi theo cô bạn hàng xóm đến trung tâm luyện thi Tú Tài để học... ké, nghĩa là học mà không đóng tiền, chỉ được đứng ngoài hành lang và nhìn qua cửa sổ để nghe ké thầy giảng bài. Ở đây cũng có nhiều người học ké như tôi, có những buổi tôi đứng suốt 2-3 tiếng. Mỏi chân và mệt, tôi ngồi bệt xuống bậc thềm, nhìn lên bầu trời đen thui như tương lai của tôi. Có một người lặng lẽ ngồi xuống cạnh tôi, đặt lên tay tôi một mảnh giấy, tôi nhận ra Dũng. Nhìn vào mảnh giấy tôi thấy Dũng đã ghi dùm những công thức mà thầy viết trên bảng khi tôi mơ màng lúc nãy.
 
Ngày đi thi, Dũng đến nhà tôi thật sớm để cùng đi với tôi đến phòng thi. Tưởng Dũng đi về sau đó, ai dè khi thi xong buổi sáng tôi thấy Dũng còn đứng ngoài cửa trung tâm chờ tôi. Suốt 3 ngày thi, Dũng đều đi với tôi y như chính Dũng cũng đi thi vậy. Ngày có kết quả thi Tú Tài, tôi ra sân nhà ngồi buồn một mình. Tôi đang tìm một lời nói dối với Mẹ vì biết nếu tôi thi rớt Mẹ sẽ buồn còn nhiều hơn tôi. Mẹ thường bảo “Giàu Út ăn, khó Út chịu. Mẹ già rồi, chỉ mong con học giỏi, sau này có việc làm ổn định tự lo được lấy thân là mẹ vui.” Nghĩ đến Mẹ, tôi đau lòng sắp ôm mặt khóc thì có tiếng gọi ngoài cổng. Dũng đến rủ tôi đi xem bảng kết quả thi. Tôi nói với Dũng:
 
- Thôi, đi làm gì, rớt rồi, mà nói nhỏ chứ, Mẹ nghe bị mắng bây giờ. 
 
- Đậu rồi! Bình Thứ.
 
- Thiệt hông? Đừng nói dối cho người ta mừng... hụt nha
 
- Thiệt mà, Dũng mới từ Nha Học Vụ về nè.
 
Tôi mừng quá chạy vào nhà trong choàng vội cái áo dài, quơ vội cái bóp, xách xe ra phóng theo Dũng, quên luôn chào Mẹ. Đến nơi, tôi mừng rỡ nhìn thấy tên tôi trên bảng “dzàng”. Chưa bao giờ tôi thấy tên tôi đẹp như thế. Một hạnh phúc quá lớn đến với tôi; một kết quả tuyệt vời; một ngày đẹp trời nhất trong cuộc đời tôi. Nhưng, sao tôi nghe mắt mũi mình cay, tôi muốn òa lên khóc cho thỏa những ngày học thi gian khổ. Dũng nói:
 
- Khao đi. Tấm bằng này phải chia cho Dũng một nửa đó nha. 
 
Tôi cười:
 
- Chuyện nhỏ, mà Dũng trả tiền à nha?
 
Chúng tôi vui vẻ cùng lái xe trực chỉ Givral, đến một tiệm kem có bánh kem Pháp rất ngon, nằm ở góc Tự Do và Lê Lợi. Ngồi vào bàn, sau khi ngốn 2 ly kem xong, tôi chiếu tướng mấy dĩa bánh kem bầy đầy trên bàn. Bất chợt tôi nhận ra Dũng có vẻ nhấp nhóm không yên. Dũng nói nhỏ:
 
- BT ngồi đây, ăn từ từ nha, Dũng đi một chút xíu sẽ quay lại ngay.
 
Tôi trố mắt nhìn Dũng:
 
- Không. T không muốn ngồi một mình đâu.
 
Tà tà, tôi dứt sạch mấy dĩa bánh trên bàn, hả hê ăn để trả thù những ngày học thi phải lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên, rồi tôi thản nhiên gọi bồi đến tính tiền. Tội nghiệp Dũng gương mặt tái mét khi cầm phiếu tính tiền trên tay, tôi mỉm cười luồn tay dưới gầm bàn, nắm tay Dũng kèm theo tiền. Mặt bỗng dưng hồng hào trở lại, Dũng nhìn tôi với đôi mắt cám ơn.
 
Ngày tựu trường của niên học mới, tôi hãnh diện trở lại trường vào lớp 12 MS1 với các bạn. Đâu ai biết có lúc tôi tưởng đã không bao giờ có thể quay lại ngồi học chung với nhau nữa, nếu chẳng may Tiểu Long Nữ này phải lên núi ở ẩn, biệt tích giang hồ vì thi rớt. Năm đó tôi cũng kiếm được một chỗ trọ khác không xa trường lắm, và buổi đi học nào cũng đều có Dũng "hộ tống" theo sau. Năm 1972, năm được mệnh danh là Mùa Hè Đỏ Lửa, chiến tranh leo thang khốc liệt khi chúng tôi mới vào học lớp 12 được vài tháng. Dũng và một số bạn trai cùng lớp bắt buộc phải xếp bút nghiên vào quân trường theo lệnh “Tổng Động Viên”. Trong thời gian chờ ngày trình diện nhập ngũ, Dũng vẫn đến trường, ngày ngày vẫn đi theo sau tôi đến lớp cho đến ngày phải rời xa. Dũng vốn ít nói nay lại càng ít nói hơn, đến nỗi ngày mai đi mà vẫn không một lời từ biệt tôi. Tôi hiểu nỗi đau buồn của những người trai thời chiến, tôi âm thầm chờ một cánh thư từ quân trường Thủ Đức gửi về, nếu có tôi sẽ đi thăm Dũng. Cánh thư mà tôi mong đợi rồi cũng đến tay tôi, nhưng không phải từ quân trường Thủ Đức mà đến từ một nơi rất xa, quân trường Đồng Đế Nha Trang. Dũng giải thích vì Thủ Đức quá đông nên một số SVSQ phải học ở Đồng Đế Nha Trang. Trong thư có một đoạn mà tôi phải đọc đi đọc lại 2-3 lần mà vẫn không hiểu, đại ý Dũng viết: "Yêu có nghĩa là hy sinh, nghĩa là phải biết hy sinh cho người mình yêu và cầu mong cho người mình yêu được hạnh phúc. Dũng không muốn một ngày nào đó người yêu mình trở thành góa phụ ngây thơ..." Đọc xong bức thư tôi cảm thấy giận hờn và có cảm giác bị từ chối, tôi chờ đợi lá thư thứ hai. Nhưng, đó là lá thư duy nhất mà tôi nhận được. Lòng tự ái bị tổn thương, tôi im lặng và thời gian trôi đi.
 
Năm 1974, một buổi chiều vừa đi làm về, chưa kịp thay áo, bỗng có tiếng máy xe Honda nổ ầm ầm trước cổng nhà, rồi tiếng gọi tên tôi um sùm. Tôi vội chạy ra, thấy 3, 4 bạn trai cùng lớp Mục Súc ở Bình Dương. Cả nhóm lao xao: 
 
-Thằng Dũng chết rồi, quàng bên Việt Nam Quốc Tự kìa.
 
Tôi ngạc nhiên hỏi lại: 
 
- Dũng nào? Vì trong lớp có đến 2, 3 người tên Dũng. 
 
- Trời ơi! sao BT vô tình quá vậy? N Đ Dũng, chứ Dũng nào
 
Tôi choáng váng, chạy theo đám bạn vào nhà Vãng Sanh Đường nơi quàng xác Dũng trong khuôn viên chùa Việt Nam Quốc Tự, đối diện với ngõ vào nhà tôi. Quì trước linh cữu, tôi bật khóc khi nhìn thấy di ảnh của Dũng được đặt trước quan tài. Bạn của tôi chết khi tuổi đời còn rất trẻ, mới vừa tròn 21 tuổi. Mẹ Dũng ôm lấy tôi khóc như điên dại, trên tay bà cầm một miếng vải trắng, bà quơ nó vào mặt tôi vừa khóc vừa nói: “Đây là khăn đắp mặt Dũng lúc nó chết, con đắp lên mặt con đi, con sẽ thấy nó về, ngực nó đầy máu con ơi!” Tôi hoảng sợ né tấm vải đó nhưng vẫn bị bà đè xuống. Cũng may có những người bạn đứng xung quanh giải vây dùm, nếu không chắc tôi chết vì quá sợ. Sau khi bình tâm trở lại, bà kể cho chúng tôi nghe, trước ngày Dũng chết vì bị bắn sẻ một viên duy nhất trúng ngay tim, trong dịp phép về thăm nhà, Dũng nói với bà: "Mai mốt con chết, Má quàng con bên Việt Nam Quốc Tự nghe Má." Bà la rầy Dũng nói gỡ không tốt, ai dè 2 tháng sau Dũng chết thật. Bà thắc mắc không hiểu tại sao Dũng lại muốn quàng xác ở một nơi xa nhà như thế, vì chết thì quàng ở nhà mình, nhà có đất rộng, có nghĩa trang gia đình, bao nhiêu đời đều nằm ở đất nhà. Tuy nghĩ vậy, nhưng bà vẫn làm theo nguyện vọng của Dũng. Khi tôi và các bạn cùng lớp đến viếng tang, bà nhận ra tôi vì trước đây khi còn đi học chung với Dũng, tôi có đến nhà bà chơi vài lần. Khi bà biết nhà tôi ở phía đối diện chùa thì bà mới hiểu. Ngày hôm sau tôi xin nghỉ làm, cùng các bạn đưa tiễn Dũng về nhà, rồi chúng tôi đặt Dũng an nghỉ trong khu nghĩa trang gia đình, chỉ cách nhà Dũng khoảng 50m. Dũng mất rồi, tôi mới hiểu ý nghĩa của bức thư duy nhất Dũng gởi.  Tôi cũng hiểu ra trong những tháng ngày chúng tôi bặt tin nhau, Dũng vẫn quanh quẩn bên tôi. Cho đến phút cuối cùng từ giã cuộc đời, bạn vẫn nghĩ đến tôi. Tôi đúng là một con bé vô tình.
 
Sáu năm sau, một hôm đi theo cô bạn hàng xóm xem bói, tuy tôi không tin bói toán mà chỉ đi theo chơi thôi. Nhưng khi vừa bước vào nhà bà thầy bói, bà nhìn tôi chăm chú rồi nói: “Cô có một vong đi theo, vong này làm cho cô không thể lấy chồng, ai đến với cô cũng đều bị đuổi đi và làm cho cô sáng yêu chiều chán.” Tôi lạnh người, tự nhiên nghĩ đến Dũng, và cũng cảm thấy bà thầy bói nói đúng. Bà nói tiếp: “Cô nghe lời tôi về cúng hóa giải đi.” Bà bày cho tôi về mua một căn nhà bằng giấy và 2 hình nhân đàn bà cốt ý thế mạng cho tôi. Tất cả đem về nhà, mỗi tối cúng 3 ly nước với một dĩa trái cây cùng hương hoa. Cúng liên tiếp 3 đêm rồi đốt đi. Tôi suy nghĩ rồi làm theo lời bà, thôi thì có kiêng có lành. Sau khi cúng xong, tôi đạp xe đến chợ Bà Chiểu, gần nhà Dũng, tôi mua một chục hoa hồng nhung, thêm một cành hồng vàng, một cành hồng trắng, cùng một xị rượu đế để đến thăm mộ Dũng. Gặp lại Mẹ của Dũng sau 6 năm xa cách, bà trông già đi nhiều, bà ngạc nhiên thấy tôi đến thăm với hương hoa trên tay vì hôm đó không phải là ngày giỗ của Dũng. Bà nói: “Hôm nay con đến thăm. Hèn chi đêm hôm qua cây đàn guitar của Dũng dựng ở trong phòng, lâu lâu lại vang lên như có ai quẹt vô vậy đó.” Nghe bà nói tôi càng sợ, đứng thắp nhang trước bàn thờ Dũng mà tôi không dám nhìn vào di ảnh của Dũng, tôi cắm bó hoa hồng nhung vào cái bình trên bàn thờ. Đem theo một ít hương hoa và rượu, tôi rủ bà cùng ra thăm mộ với tôi. Đứng trước mộ Dũng, tôi rót ra 3 chung rượu, thắp cho Dũng 3 nén nhang, cầm từng bông hồng cắm vào ly nước để sẵn trước mộ. Tôi bắt chước người xưa, cầm từng chung rượu nhỏ đổ chầm chậm xuống mộ, thì thầm khấn vái: “Dũng ơi, cầu mong cho bạn được siêu thoát, nếu có kiếp sau, xin cầu mong bạn được sanh vào một thế giới không có chiến tranh, không có hận thù. Và đây là tấm lòng của BT dành cho bạn, một bông hồng đỏ cảm ơn tấm chân tình của bạn, một bông hồng vàng cám ơn tình bạn của bạn, và một bông hồng trắng cảm ơn tình cảm trong sáng cao thượng của bạn.” Tôi cũng muốn bắt chước nàng Mỵ Nương khi xưa, rơi nước mắt xuống khối u tình của chàng Trương Chi cho khối u tình tan theo mây gió, vì đã có người hiểu được lòng mình. 
 
Gần hai năm sau, có một chàng Dương Quá bạch diện thư sinh, mặt búng ra sữa Babylac, đến làm quen với Tiểu Long Nữ. Tuy có đôi chút ngại ngần, nhưng vì sợ cô đơn độc hành trên đường đời đầy chông gai, nàng nhắm mắt nắm tay Dương Quá, lòng thầm hiểu đây là món quà Dũng tặng cho tôi. Thôi, bạn hãy ngủ yên nhé. Cảm tạ một tấm chân tình. Bạn đã cùng đi bên tôi trên một quãng đường đời thời niên thiếu, tuy quãng đường đó không dài, nhưng bạn đã để lại trong tôi một kỷ niệm khó quên.
 
Tuyết Phương Nam