alt
Cô Nguyễn Thị Thu

Đọc xong bài của Huỳnh Xuân Hoàng viết về thầy Trần Nhựt Tân tôi vô cùng xúc động về tình nghĩa của các bạn NLS BD dành cho thầy Tân.  Càng cảm kích hơn vì những nhận xét của HXH về con người của thầy Tân qua cái nhìn vô cùng sâu sắc, tinh tế và cởi mở với đầy lòng thương mến, cảm thông và rộng lượng.  Xin mượn câu của HXH viết, “khó mà có được người Học Trò, người Bạn như thế” – như một Nguyễn (Trương) Quốc Hưng, như một Huỳnh Xuân Hoàng, như những học sinh NLS BD nói chung - để diễn đạt cảm nghĩ của tôi.   

Qua bao khúc quanh của lịch sử, bao thăng trầm của cuộc đời, rồi thầy Trần Nhựt Tân cũng theo quy luật Sinh, Lão, Bịnh, Tử buông xuôi tất cả: hoài bão, tâm huyết, sở trường, tình cảm… để ra đi.  Đoạn đường cuối độc hành của thầy thật vất vả, cheo leo nhưng không cô đơn vì luôn có những người học trò bên cạnh cho đến giờ phút cuối.  Cũng như mọi người trong mọi chuyến đi cuối đời, rời tất cả, không còn gì, chẳng mang theo được chi.  Riêng thầy Tân thì hơi khác.  Vì… rất may còn lại chút tình thầy trò.  Chắc chắn là thầy đã ấp ủ khối thâm tình này trong lòng và sẽ mang theo qua nhiều kiếp sau nữa.  Mấy ai được như vậy! 

Nhờ bài viết của Hoàng nhiều người có dịp biết thêm về “Con người đời thường” trộn lẫn trong “Con người văn chương nghệ thuật” của thầy Tân.  Dĩ nhiên, con người chẳng ai là thần thánh hay siêu nhân hoặc hoàn hảo hay toàn thiện.  Vì thế chúng ta mới luận bàn về “con người đời thường” của thầy Tân ngày hôm nay qua tâm tình hiểu biết và thông cảm.  “Tự điển” sống của thầy Tân không có chữ  “Ngại” làm người khác buồn, thay vào đó bằng chữ “Dám” nghĩ gì nói nấy.  Và có kết luận: Thầy Tân sống như là… thầy Tân - với bao kẻ thương người ghét.  Mặc kệ đời.  Thử hỏi mấy ai đủ can đảm dám sống vượt qua thói thường như vậy chứ?

Tình thầy trò giữa nhóm bạn NLSBD và thầy Tân được phát huy và duy trì qua những buổi tửu hậu, chén “Sư Phụ”, chén “đệ Tử” thật đề huề, cởi mở, thú vị và cách nào đó đã mang thật nhiều ý nghĩa sâu sa và đáng trân quý cho cả đôi bên.  Nó tiềm tang một triết lý sống, một nhân sinh quan vượt ra ngoài khuôn khổ tầm thường, nhỏ hẹp.  Sự cảm nhận này có lẽ chỉ những người trong cuộc hoặc có cơ hội tiếp xúc với thầy Tân nhiều mới hiểu thấu đáo.

Cũng từ những buổi “tửu hậu”, đại để như HXH đã kể làm tôi có cơ hội thay đổi cái nhìn về thầy Tân, biết phần nào con người từ bên trong của thầy nhiều hơn thay vì chỉ nhận xét từ bên ngoài như trước đây.  Trở lại thời gian tôi mới về dạy tại trường NLSBD, rất ngắn ngủi, tôi chưa kịp làm quen thân với đa số đồng nghiệp thì đã bị đưa về Ty Nông Nghiệp BD rồi.  Riêng thầy Tân, tôi chỉ gặp vài lần khi họp giáo chức, sau đó tình cờ biết tôi ở ngã ba Hàng Xanh, còn thầy ở cư xá Thanh Đa, nên sau 75 dù chúng tôi không còn dạy ở NLSBD nữa thì thỉnh thoảng trên đường đi làm ở Viện Văn Hóa Xã Hội về thầy ghé thăm.  Sau tôi bỏ làm hẳn bên Ty NN BD thì ngoài thầy Trần Nhựt Tân còn Thầy Phan Quang Định cũng ở Sài Gòn và đôi lúc chúng tôi gặp gỡ nhau để tán gẫu, thăm hỏi tin tức nhau và để nghe tiếng thở dài trăn trở cho tương lai u ám của mình.  Có lẽ vì chúng tôi không còn trường cũ để trở về như mọi người nên gặp gỡ nhau là để có cơ hội nhắc nhở, gợi nhớ lại cái thời vàng son đã qua ấy thôi.  Ngồi nhà buồn quá cũng chán, một hôm thầy Tân rủ tôi: 

- Tôi và cô đi kiếm cái gì nhậu chơi đi.

Tôi cười vì sự rủ rê kỳ dị này và bảo:

- Đàn bà con gái mà vào quán nhậu người ta cười cho chết đó thầy!

- Cô mà ngại ngùng gì chuyện đó.  Tôi nhìn thấy cô, tuy yểu điệu vậy mà tánh tình cứng rắn như con trai.  Bỏ chiếc áo dài ra, cô rõ ràng là…là… “tomboy”.

Có lẽ thầy đã dừng lại kịp lúc trước khi sổ ra những lời tả chân khác tệ hại hơn “tomboy”.  Với lối nói chuyện thẳng thừng, không sợ mích lòng thầy Tân rủ tôi đi nhậu ở một quán cóc bán cháo và gỏi vịt bên lề đường tại ngã ba Hàng Xanh.  Thầy chỉ uống một chai bia thôi còn tôi thì phá mồi.  Nhờ những dịp như vậy mà tôi hiểu phần nào tánh tình và con người của thầy.  Dưới mắt tôi, tôi luôn nhìn thầy qua sự cảm thông nhiều hơn là xét đoán.  Chúng tôi là những người không gặp vận may, không đất dụng võ, bị thất sủng và mang ẩn ức của người bất đắc chí.  Sau này khi biết tôi nuôi ý định vượt biên và biết gia đình tôi sống gần vùng biển thầy Tân ngỏ ý nhờ tôi móc nối khi có dịp.  Thú thật, thân tôi lo còn chưa xong, đã thất bại năm lần bảy lượt thì làm sao tôi dám rủ rê người khác.  Lần vượt biên thứ bảy tôi đi thẳng vào nhà tù trong vùng đầm lầy nước đọng U Minh – tỉnh Rạch Giá, thay vì đi vào trại tị nạn.  Lúc mãn tù trở về nhà, thầy Tân lại thăm tôi, nhìn bộ dạng đen đúa, ốm nhom, tay chân còn dính phèn chua, người còn chưa gột hết bùn rất nặng mùi.  Dư biết tôi từ đâu về, nhưng với thói quen bông đùa bậm trợn, thầy trêu tôi bằng lời lẽ đáng giận mà nếu không quen biết lâu thì sẽ đánh giá tư cách của thầy khác đi nhiều.  Nể tuổi tác thầy lớn hơn, nên dù không vui tôi cũng chỉ cười trừ và đáp trả sự bông đùa quá lời và không phải lúc của thầy:

-  Sáu tháng loi ngoi, lóp ngóp vùng sình lầy nước đọng, bùn thúi không chân ở U Minh Thượng, rồi lại gặp nạn lụt “năm Thìn” nữa nên chỉ được húp “cháo phù sa” (1) sống qua ngày, may mà chưa chết còn bò về là có phước lớn rồi đó. 

Không nói ra nhưng cả thầy và tôi cùng hiểu là thật may, tôi đã không móc nối thầy vượt biên cùng một chuyến.  Vài tháng sau, sau tám lần thử thời vận, cuối cùng tôi đến bến bờ tự do.  Thầy Tân ở lại!  Đáng tiếc là tôi đã không giúp được điều thầy mong đợi.  Phải chăng số thầy nặng nợ với những hoài bão ở quê hương và phải sống và ra đi trong lòng đất mẹ?  Từ đó, cuối năm 1979, tôi không nghe biết tin tức gì của thầy Tân cho đến mấy tháng trước được tin thầy bịnh nặng và gần đây tin thầy vĩnh viễn ra đi.  Nghẹn ngào, xúc động, một thành viên của gia đình NLSBD đã bỏ đi.  Một mất mát vĩnh viễn với kẻ thương, người ghét.  Phải ghi nhận là chúng ta đã có một thời cùng chung lưng, sát cánh dưới một mái trường thân yêu.  Nơi mà trải qua bao năm tháng, tình đồng nghiệp, đồng môn luôn gắn bó; nghĩa thầy trò, huynh đệ vẫn thâm sâu; lòng tôn sư trong đạo mãi mãi mọc rễ ăn luồn vào xương tủy của học trò không bao giờ phai nhạt theo thời gian và không gian.

Không có gì cảm động và quý hóa hơn tấm chân tình của các bạn NLS BD dành cho thầy Tân bao năm qua.  Thầy ra đi trong vòng tay ấm áp thân thương của những người học trò.  Tro cốt của thầy về với lòng quê hương như nguyện ước.  Lần này thầy đã thật sự ra đi trong an toàn, thư thả, không vướng víu hệ lụy trần ai.  Một chuyến đi nhẹ nhàng êm ái.  Xin tiễn đưa thầy bằng tất cả tình bằng hữu chân thành và cảm nghĩ tốt đẹp về những kỷ niệm của một thời đã qua.

Nguyễn Thị Thu 

(1)   Năm Thìn (khoảng 1978 hay 79 gì đó, không nhớ chính xác lắm) tôị đi vượt biên và bị bắt tù ở U Minh Thượng, lúc đó đồng bằng mấy tỉnh miền Tây như Rạch Giá, An Giang, Cần Thơ… đều bị nước ngập lênh láng đến mấy tháng.  Vì thiếu hụt gạo hay phương tiện chuyên chở nên gạo chuyển đến trại tù bị dứt quãng.  Để có thể cầm cự với số lượng gạo thật ít ỏi mà số tù nhân vượt biên quá cao, trưởng trại giải quyết là mỗi ngày tù nhân chỉ được ăn một bữa vào buổi trưa với một bát cháo nấu thật loãng, nước đục lợn cợn chút gạo nếu dùng vải mùng thưa để lược cũng không thấy được cái. Do đó tù nhân đặt tên là “cháo phù sa”.