Bìa Tập San 12 MS2 - Hè 75

 

Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ
Nhiều nét đổi thay tường mái rêu mờ
Bên hiên hằng giờ tìm những bạn xưa
May ra có còn đôi đứa
Vẫn yên vui sống đời học trò

 

Thưa bạn đúng vậy lời bài hát “Trường Cũ Tình Xưa”của nhạc sĩ Duy Khánh vẫn còn văng vẳng đâu đây trong tâm tưởng mỗi khi lần giở xem lại quyển Tập San nhỏ vẫn còn giữ được, do râu tôi và các anh em bạn cùng lớp đã đem tất cả tâm huyết cùng công sức để thực hiện.

Năm 1975 là năm cuối của bậc Trung Học, lớp 12 ban Mục Súc 2, của anh em chúng tôi, nay đã 44 năm qua, quá  nửa đời người, thời gian đúng như người xưa nói “bóng câu qua cửa sổ.” Hôm nay ngồi đây dành chút thì giờ nhớ lại và viết ra đôi dòng về quyển Tập San nhỏ này để nhớ về một thời hoa mộng của tuổi học trò, cái tuổi “ăn chưa no lo chưa tới!”

Từ đầu năm học, niên khóa 1974-197, năm học cuối tại trường này đã có những lần nhóm anh em chúng tôi ngồi với nhau tâm sự, chuyện vãn. Gọi là nhóm vì chúng tôi thường hay có những lúc ngồi lại với nhau bàn bạc thảo luận đủ chuyện, đề tài, thời sự, việc học hay nói chuyện tếu lâm... Quanh đi quẩn lại cũng có mấy khuôn mặt: Râu tôi, Phạm Tuyên (Phó Lớp - Trưởng Ban Báo chí), Ưng Hồng Thu (Trưởng Ban Học Tập), Lê Hồng Điều (Điều phè), Sơn Ngọc Thái (Trưởng Ban Trật Tự-Khánh Tiết), và một vài bạn không nằm trong Ban Đại Diện lớp nhưng cùng trong nhóm với nhau như Nguyễn Thanh Hùng (Dượng Bảy, tên bạn bè tặng cho), Ngô Quang Hải.

Bọn mình phải làm một cái gì, một việc gì để lưu lại chút kỷ niệm cho thời gian 3 năm trời học chung với nhau từ 1972 đến 1975 dưới mái trường Nông Lâm Súc Bình Dương này.  Nhưng làm gì, việc gì để lưu lại kỷ niệm cho thời gian gắn bó với mái trường với Thầy Cô, các bạn cho quãng thời gian này cho có ý nghĩa! Tính tới, bàn lui mãi với nhiều ý kiến thảo luận, bàn bạc cùng đúc kết để đi tới quyết định chung là chúng tôi sẽ ra một tờ báo. Gọi là “báo” cho ra vẻ “oai” thật ra chỉ là quyển Tập San nhỏ được đăng đính kèm trên Trang Nhà của chúng ta.

Những khó khăn được nêu lên bàn thảo, góp ý kiến và cùng nhau tìm cách giải quyết:

1. Có 2 điểm chính yếu trong việc các anh em trong nhóm muốn thực hiện việc ra “báo.”

i) Niên khóa 1973-1974 lớp 11 MS2 chúng tôi đã ra một số “báo” rồi, có chút kinh nghiệm và tự tin cho nên năm cuối, niên khóa 1974-1975, chúng tôi cũng sẽ ra một tờ “báo” như năm lớp 11.

ii) Năm học cuối tại trường này chúng tôi như các con chim non đã tạm đủ lông đủ cánh để rời tổ, xa trường mẹ nơi gắn bó tình sư phụ từ Thầy Cô, tình bằng hữu từ bạn bè thân thương phải có một chút gì lưu lại dấu ấn thời gian này với nhau chứ! Phải ra tờ báo. Đúng vậy đó là quyển Tập San nhỏ được ra đời!

2. Mục đích của quyển Tập San là gì? Có phải để bán không? Bán cho ai? Đối tượng nào sẽ mua? Các bạn cùng lớp, các lớp khác cùng trường? Xa hơn, chúng ta sẽ bán chohọc sinh trường bạn Trịnh Hoài Đức, ngôi trường láng giềng của chúng ta?

3. Xác suất bán được có thể lấy lại vốn đã bỏ ra hay không?

4. Nếu không để bán thì liệu anh em chúng tôi có đủ sức và tiền đâu để trang trải chi phí cho tờ báo với tính cách “lưu hành nội bộ?”

5. Kích thước của báo? Làm thế nào, làm ra sao? Cần có những vật liệu gì để làm? Nguồn vật liệu? In hay quay Roneo? Giấy trắng để in? Điều này tùy thuộc vào kích thước của tờ báo và số lượng báo muốn ra.

6. Bài vở thế nào? Ai viết bài đóng góp cho tờ báo

7. Điều chắc chắn dù với phương tiện nào, quay”roneo”hay in chúng tôi cũng sẽ cần đến một máy đánh chữ để gõ bài và nếu quay”roneo”cần có giấy “stencil” để đánh, sau đó sẽ gắn vào máy “roneo” để quay.

8. Bạn nào có thể tìm ra giấy “stencil” để đánh bài, ai sẽ đánh bài và nguồn cung cấp giấy trắng, và giấy bìa trước và sau.

9. Bạn nào chịu trách nhiệm vẽ hình và trình bày bài vở? Bạn nào chịu trách nhiệm hiệu đính bài vở?

10. Chương trình học cho năm cuối quá nhiều và quá nặng liệu chúng ta có đủ thì giờ để vừa học vừa thực hiện Tập San không? Lớp chúng tôi có Ban Học Tập với Trưởng Ban là bạn Ưng Hồng Thu vẫn dành chút thì giờ để giúp đỡ các bạn cùng lớp gặp khó khăn với các bài học, bài tập Toán, Lý Hóa có thể đến tận nhà trọ nơi anh em chúng tôi (râu tôi và bạn Thu) ở trọ tại Búng để được hướng dẫn cách giải các bài Toán, Lý hiểm hóc khó khăn.

Sau đây là phần giải pháp cho những vấn đề đặt ra trong việc xúc tiến ra báo của anh em chúng tôi:

1.Báo sẽ được phát hành chỉ để “lưu hành nội bộ” vì chúng tôi đã thấy rất khó trong việc bán cho các lớp khác cùng trường, nói chi đến bán cho trường bạn Trịnh Hoài Đức. Không nên phiêu lưu phung phí tài chánh và sức lực mà mình thấy trước sự thất bại.

2. Chúng tôi có một buổi họp hay đúng hơn một buổi nói chuyện ngắn trước lớp do râu tôi và bạn Phạm Ngọc Tuyên, Trưởng Ban Báo Chí chịu trách nhiệm đứng ra trình bày với cả lớp về việc chúng tôi muốn thực hiện tờ báo để lưu lại chút kỷ niệm cho năm học cuối và kêu gọi tất cả các bạn đóng góp bài vở.

3. Về nguyên liệu cần thiết để làm tờ báo phần lớn đến từ bạn Nguyễn Thanh Hùng với tên được bạn bè đặt cho “Dượng Bảy.” Bạn Hùng có thể cung cấp cho chúng tôi giấy “stencil,” giấy trắng để in.

4. Bìa trước và sau do từ số giấy còn lại từ lần thực hiện Tập San trước đây. Niên khoá 1973-1974, lớp 11 MS2, anh em chúng tôi đã ra một Tập San tương tự. Hiện không ai còn giữ, đang cố tìm lại nếu được sẽ có gắng phục hồi lại quyển Tập San này và sẽ phổ biến trên trang nhà NLS BD.

5. Máy đánh chữ đến từ bạn Ưng Hồng Thu (Trưởng Ban Học Tập) do bạn mượn được từ người chị bà con có nhưng không sử dụng trong khoảng thời gian đó. Bạn Phạm Tuyên có một máy nhưng không có dấu, nên các bài do Tuyên đánh xong phải bỏ dấu bằng tay rất vất vã, để ý bạn sẽ thấy.

6. Người đánh bài sẽ do râu tôi và bạn Phạm Tuyên thay phiên đóng góp công sức.

7. Bài sau khi đánh xong sẽ giao tất cả cho bạn Lê Hồng Điều tục danh “Điều Phè” chuẩn bị việc thực hiện các bản vẽ và trình bày và người cầm cọ thứ hai là nữ giới, bạn gái của Phạm Tuyên tên Phạm Thị Thanh Hải ở nhà thờ Lái Thiêu (điều này bạn Tuyên dấu rất kỹ cho đến bây giờ bạn mới hé mở chút lòng cho râu tôi và bạn bè biết.)

8. Kích thước tờ báo: Đến đây xin được gọi là quyển Tập San cho đúng danh xưng của nó nếu tôi nhớ không lầm chỉ vào khoản 150 x 210 cm tức khoản ½ khổ giấy A 4 không thể lớn hơn được vì số bài vở đóng góp và chi phí đóng góp cho tờ báo có hạn.

9. Số lượng dự định phát hành của Tập San chỉ tròm trèm 50 đủ cho số 40 học viên của lớp 12 MS 2 vào thời điểm đó.

10.Bạn Nguyễn Thanh Hùng lo phần lớn việc in tại đường Hùng Vương Sài Gòn cạnh Ủy Hội Quốc Tế. Chi phí cho việc in thì râu tôi không còn nhớ rõ đào đâu ra tiền để trang trải chuyện này! Chuyện ngày xưa với từng năm tháng qua!!!

11. Ngày phát hành vào một vài ngày cuối của niên học năm 1975 cho cả lớp.

Về các khó khăn gặp phải trong việc thực hiện quyển Tập San, xin thưa cũng có nhiều khó khăn đến với anh em chúng tôi, phần lớn là bài vở đóng góp không nhiều như chúng tôi mong muốn. Tuy số bài vở đóng góp ít ỏi nhưng được các bạn góp bài cho Tập San là niềm khích lệ, an ủi, nâng tinh thần làm việc cho Tập San của chúng tôi lên như các bạn Hồ Văn Lòng (từ NLS Bình Tuy chuyển trường về), bạn Ưng Hồng Thu Trưởng Ban Học Tập tuy hay ngại ngùng phát biểu trước đám đông nhưngcũng có lòng đóng góp bài vở cho Tập San.

Danh sách giáo sư dạy cho 3 năm học của lớp MS2 từ niên khoá 1972 cho đến 1975 vẫn còn đây. Danh sách 40 Học viên lớp 12 MS 2 niên khoá 1974-1975 vẫn còn đủ tên họ và địa chỉ của các bạn, nay hầu hết đã thay đổi vì đã hơn 40 năm, nhưng nhìn vào các trang này râu tôi có cảm tưởng bàn tay mình đang sờ được lên bức tường gạch rêu phong của ngôi trường cũ, của lớp học năm nào, lòng tôi luôn xúc động vì đang cầm trên tay quyển Tập San, một kỷ niệm xưa của một thời đi học, tuổi hoa mộng của ngày ấy nay đâu còn nữa. Làm sao níu kéo thời gian hả bạn!

Vừa học vừa làm báo, học mờ người với chương trình năm cuối cùng của bậc Trung Học, các bài vở chuyên môn về Mục Súc của lớp 12 thật quá nhiều, nặng và khó nhớ, nhưng phải cố làm sao nhồi hết vào đầu, vào bộ nhớ để chuẩn bị cho kỳ thi vào cuối năm. Bên cạnh đó lòng không khỏi nôn nao lo lắng cho số phận của các bạn sắp đến tuổi phải rời trường để khoác áo quân nhân và cho vận mệnh của quê hương đất nước vì tiếng súng vang vọng gần xa luôn nhắc nhở anh em chúng tôi là quê hương đang trong thời chinh chiến. Có biết đâu ngày chung cuộc của miền Nam đã gần kề!

Râu tôi vẫn không quên một buổi trưa khi đi học từ chợ Búng đến trường, dọc đường thấy xe GMC chở lính Biệt Động Quân đậu dài bên lộ gần trường, khi chúng tôi vào học khoảng 1 tiếng thì nghe tiếng súng nổ giòn sâu phía  các vườn măng cụt đối diện với trường. Khi rời lớp trở về chợ Búng ngày hôm đó thì thấy các xe cứu thương quân đội đỗ đến chở các quân nhân Biệt Động Quân được di chuyển từ sâu trong các vườn măng ra lộ. Vài tiếng đồng hồ trước đây các anh còn đứng trên xe trêu các em nữ sinh NLS áo nâu hay áo trắng Trịnh Hoài Đức mà giờ đây các anh đã nằm bất động trên băng ca, máu của các anh đã đỗ cho quê hương. Đời lính luôn hiểm nguy, thương cho các anh vô vàn!

Ngày cuối của niên học năm ấy đến, quyển Tập San được phát tận tay hầu hết các bạn trong lớp MS2 có một số các bạn có lòng tương trợ đóng góp cho Ban Biên Tập tùy lòng hảo tâm của các bạn ấy. Lúc ấy cầm quyển Tập San nhỏ trên tay, mùi giấy mới, mùi mực làm chúng tôi thật xúc động và nhớ không cùng những nỗ lực công sức cả nhóm đã bỏ ra để làm nên quyển Tập San nhỏ này. Anh em bạn học chia tay vội vã vì tình hình chiến cuộc ảnh hưởng chung trên cả nước để rồi một số ít chúng tôi gặp lại nhau sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại trường NLS An Mỹ để học thêm một thời gian ngắn hầu có thể kết thúc năm cuối của bậc Trung Học với chế độ mới một chế độ nhuộm đỏ và thống trị cả nước Việt Nam!

Bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi 
Năm ba đứa bạt phương trời 
Hai thằng chờ đầu quân năm tới
Ve ơi, hát gì điệu nhạc lâm ly 
Khóc người biền biệt sơn khê 
Cố nhân đi bao giờ mới về?
 

Sơn Râu