Thầy Nguyễn Văn Quýt chụp chung với lớp do Thầy hướng dẫn

 

Tôi còn nhớ khoảng năm 1969 sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo Sư Phạm Kỹ Thuật NLS được dạng ưu tiên, khi chọn nhiệm sở tôi đã chọn Trường Trung Học Kỹ Thuật NLS Bình Dương, dạy bộ môn Chăn Nuôi, Thú Y và Thực Hành Nông Trại.

Anh em cùng khoá về trường, ban Canh Nông có chị Huỳnh Thị Hương (vợ anh Đặng Tấn Lung), anh Vương Thế Đức, anh Nguyễn Văn Tấn; ban Lâm Nghiệp có anh Nguyễn Hoàng Minh, anh Đặng Tấn Lung (về sau chuyển vào trường Trung Học NLS An Mỹ, cách trường Bình Dương không xa lắm); ban Mục Súc có tôi, anh Phạm Anh Tuấn, anh Lê Kim Ry; ban Công Thôn có anh Tải Thành Sâm, anh Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Cao, Nguyễn Trọng Hiền, và còn vài anh mà lâu quá không nhớ hết được.

Vị hiệu trưởng lúc tôi về nhận công tác là ông Huỳnh Kim Ngọc, kỹ sư Mục Súc khóa 1 (đang định cư ở Mỹ), giám học là anh Trịnh Xuân Tài (đang định cư ở Úc), giám canh là anh Bùi Sanh Báu. Sau đó ông Nguyễn Văn Hạnh thay ông Ngọc và người thay ông Hạnh là ông Huỳnh Xuân Thọ làm hiệu trưởng cho đến ngày 30-4-1975.

Ở miền Nam hồi bấy giờ có rất nhiều trường Trung Học NLS như Bảo Lộc , Huế, Cần Thơ, Định Tường, Long An, Phan Rang. Việc chọn nhiệm sở của tôi có phần nào ảnh hưởng nghệ thuật phim ảnh một chút. Chuyện là hồi ấy tôi cũng rất thích Cinema, trong đó có phim “Người Đẹp Bình Dương” do nữ minh tinh nổi tiếng Thẩm Thúy Hằng đóng vai chính và nam diễn viên La Thoại Tân. Từ đó ghi dấu ấn trong tôi cái đẹp của miền đất cây lành trái ngọt nầy. Vì vậy, lúc học Sư Phạm ra trường tôi đã chọn trường NLS Bình Dương.

 

Buổi đầu bỡ ngỡ tay xách nách mang về vùng đất  lạ mà từ trước giờ chưa một lần bước chân đến, cũng may trong khoá học có mấy anh em quê ở Bình Dương. Đầu tiên tôi đến nhà anh Nguyễn Văn Tấn (ban Canh Nông) ở thị trấn Thủ Dầu Một. Từ nhà anh Tấn đi dạy cũng khá xa trường, phải đi xe đò từ thị trấn về xã Búng, buổi trưa ở lại trường. Một thời gian sau mới tìm được chỗ ở gần trường hơn, đó là nhà anh Đặng Hữu Thức, khoá một. Anh cũng về đây thuê nhà ở sát bên đường xe lửa, đây là con đường sắt chạy lên Lộc Ninh hồi thời Tây còn sót lại một đoạn qua chợ Búng. Thầy Thức ở cùng mẹ già, tôi xin ở với anh cho vui, hơn nữa anh cũng là người Huế nói với nhau cũng dễ nghe, dễ hiểu. Thật ra trong thời gian nầy tôi ở nhiều chỗ, nhưng ở lâu nhất là nhà của bác Hai ở trong khu trường Tàu. Nói là nhà nhưng thật ra đây là một cái kho để trống mà tôi xin bác Hai cho tôi mướn, quét dọn lại xem ra cũng được, về sau có anh Miêng và má của anh cùng ở, tiền nhà chia nhau trả. Điểm đặc biệt của căn nhà nầy là nơi các thầy ở Sài Gòn về đây tập họp. Các giáo viên (hồi đó gọi là giáo sư) thường đến có anh Nguyễn Viết Huyền dạy môn Sử Địa, anh Phan Quang Định dạy Triết, anh Tạ Ngọc Sương dạy Lý Hóa, anh Tải Thành Sâm, anh Nguyễn Văn Cao (sau nầy đổi về trường Định Tường, Mỹ Tho) dạy Công Thôn, anh Phạm Anh Tuấn, anh Trần Hồng Đức. Thỉnh thoảng có mấy em học viên đến thăm chơi như em Thái Thị Lành, em Trung, em Bình, em Há, v...v… Cạnh bên nhà bác Hai có ngôi trường Tiểu Học do người Hoa sáng lập. Như các bạn đã biết Búng là miền đất có rất nhiều người Hoa sinh sống tự bao đời trước, con em họ đến đây để học. Cách Búng không xa lắm, Bình Dương có một ngôi chùa cổ gọi là chùa Bà, hằng năm vào ngày rằm tháng giêng âm lịch, mọi nơi kể cả người ở Sài Gòn về đây hành hương, tạo cho vùng đất chợ Búng - Cầu Ngang-Bình Dương vốn đã nổi tiếng cây trái hiền hoà thêm mùa lễ hội thiêng liêng thật tuyệt vời. Nét đặc thù đó đã níu chân người xa xứ như tôi hơn 5 năm, từ cuối năm 1979 cho đến năm 1975.

Về trường, tôi được sắp xếp dạy Thực Hành Nông Trại (THNT) của các lớp 8, 9, 10, 11 Mục Súc. Ở đây tôi muốn nói cái rất riêng của bộ môn nầy mà chưa chắc các trường Kỹ Thuật khác đã có. Chương trình nầy có nguồn gốc từ Mỹ được quý vị giáo sư ở Nha Học Vụ NLS biến cải, dành cho các trường  Trung Học Kỹ Thuật NLS thực hiện phù hợp với cách đào tạo nông gia tương lai.

Giờ Thực Hành Nông Trại môn Mục Súc

 

Việc dạy môn THNT cũng có lắm chuyện vui, buồn. Ngoài giờ học lý thuyết các em phải thực hành các môn chuyên môn, chẳng hạn môn Mục Súc của tôi, đến giờ các em được chia ra nhiều nhóm, từ 10 đến 15 em. Khu vực thực hành là phía trước trường Cộng Đồng Búng nhìn  qua bên kia đường. Lúc tôi mới về, khu nầy còn chuồng bò, heo, gà, thỏ, mỗi chuồng đều có vài con, tuy không nhiều lắm nhưng đủ để học viên thực tập. Ở đây tôi chỉ nói riêng gia súc, ngoài ra còn đất trồng rau và nhà xưởng nữa. Nói chung cái gì cũng có nhưng không được nhiều vì đất có hạn. Cũng vì thế nên có các chương trình thực hành tại gia, nói cách khác là học viên phải lập dự án sản xuất (DASX), lâu, mau tùy theo loại gia súc.

Nhớ lại một ngày nọ tôi hướng dẫn các em làm dự án sản xuất, trước hết là lời mào đầu rôm rả của tôi: Làm dự án sản xuất chăn nuôi là phải “có lời”, nếu không lời thì các em học chăn nuôi làm gì, học nuôi cá (ngư nghiệp) sướng hơn, điều chắc chắn là các em không chọn nghề khác được vì đã chọn ban Mục Súc rồi… Bước đầu muốn nuôi gà là làm chuồng (đa số các em chọn nuôi gà), mua gà giống, thức ăn, thuốc men và các chi phí khác. Cũng có các em khác nào nuôi thỏ, nuôi vịt xiêm, vịt tàu. Có em nuôi heo mọi, trừ nuôi bò vì vốn lớn quá, hơn nữa các em cũng ở trọ như tui, có chỗ đâu mà nuôi. Thành công hay thất bại trong việc sản xuất có cả ngàn lẻ một lý do, nhưng có vài lý do tôi biết, tôi sẽ xin thưa sau.

Môn THNT có hệ số lớn nên các em học viên rất xem trọng. Nếu điểm số thấp sẽ nguy nan cho kết quả học kỳ của mình nên các em thực hành khá tốt. Trước khi bắt tay vào việc, thầy hướng dẫn phải đến nhà của các em xem kỹ chuồng trại và con giống để biết chắc chắn có nuôi thật hay không. Kinh nghiệm nghề nghiệp cho biết (sau ba bốn tháng) nếu không kiểm tra, có em ra chợ mua vài con gà mập ú và chỉ cho thầy đó là gà em nuôi. Cũng có vài em qua mặt, thầy biết nhưng thôi cũng thông qua, chỉ nhắc nhở.

Cũng nhờ chuyện DASX tại gia tôi mới khám phá nhiều vườn măng ngập tràn bóng mát và cuộc sống sung túc của nhiều em ở vùng Bình Nhâm, An Sơn, Cầu Ngang, Búng, Lái Thiêu, v...v… Có một ngày nọ, các em trong nhóm 10-15 em cao hứng tổ chức một buổi  picnic dưới vườn măng ở An Sơn, thiết đãi thầy cô dạy môn THNT một món ăn đầy chất dân dã đặc sản vùng quê Bình Dương, món khoai mì luộc bóp nhuyễn trộn cơm dừa với mỡ hành, gói bánh tráng chấm nước mắm chua ngọt. Món này mới trông thấy bình thường nhưng khi ăn thật là ngon miệng, các em còn cho thưởng thức thêm món cá rô chiên xù bắt dưới mương nhà lên, điệu nghệ chút nữa gọi thêm vài xị rượu, nhâm nhi để ngắm cảnh vườn măng cùng mương nước buổi xế tà, thầy trò cũng cảm thấy vơi đi chút nhọc nhằn trong việc học tập những ngày tháng vừa qua.

Trở lại môn THNT, sau khi nào gà nào vịt nào thỏ làm DASX kết quả không đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu, không đủ trọng lượng, có con thiếu ăn, ốm xơ xác trông rất thảm hại, bán không ai mua để thu hồi vốn. Đứng trước lớp, thầy hỏi vì sao vậy. Cả ngàn lý do các em nêu lên, ở đây tôi xin nêu lên vài lý do mà các em thường nêu ra ra: Bị trời mưa tạt, gió lùa gà bị bệnh, thức ăn gà lên bất ngờ, em về quê thăm ba mẹ gà bị chuột vô chuồng bắt mất, cả tuần nay em lo ôn bài nhiều quá nên không chăm sóc kỹ được, mấy hôm nay nhà chưa gởi tiền lên nên em cho gà ăn toàn rau. Có em đứng lên phát biểu như sau: môn Chăn Nuôi (Mục Súc) của thầy, lên lớp 10 em hông theo học nữa đâu. Tôi hỏi, tại sao? Em trả lời như sau: Bởi vì em nuôi gà, vịt, thỏ ốm không đủ cân xơ xác trông nó làm sao ấy, mấy đứa bạn ở bên ban Công Thôn, Canh Nông cười em quá trời. Tôi khuyên em, có con ốm con mập là chuyện bình thường, chủ yếu là các em có thật sự làm hay không mà thôi, cứ rút kinh nghiệm về sau. Có một em nêu lên, em lên đây học, ở nhà trọ 2, 3 đứa một phòng, lúc trời mưa to em còn ướt lấy chỗ đâu để nuôi gà thực tập; cũng có lúc tiền nhà gởi lên không đủ để trả tiền nhà và tiền ăn lấy đâu để mua thực phẩm cho gà ăn, thầy thông cảm cho em, cho em trên điểm trung bình kẻo em thi lại, lỡ rớt em đi lính trơn thầy ơi. Thế là các em đưa tôi vào chân tường rồi còn gì.

Những mẫu chuyện trên cho thấy làm thầy giáo trong thời buổi chiến tranh cũng có cái khó khăn riêng của nó, mà số phận của các em làm cho tôi trăn trở mãi.

Không thể nào quên vào một buổi chiều cuối tháng 3, tụi tôi vào nhà anh Thiên để lãnh lương (thầy Thiên dạy môn Mục Súc nhưng kiêm luôn chức phát ngân viên của trường hồi bấy giờ). Vì cùng một lò sư phạm nên anh em rất thân nhau, trong đó có thầy Tuấn, Nhàn, Sâm, Miêng, Thức, Thiên, Thi, Sương, Đăng Tẻo, v...v… Tôi mở lời trước.

“Thầy Thiên ơi cho bọn nầy lãnh lương được không?”

“Còn bao nhiêu đâu mà đòi lãnh.” (tính anhThiên rất thẳng thắn nhưng cũng dễ thương, chịu vui đùa)

“Tại sao vậy?”

“Đã mượn tiền xài trước rồi, còn chẳng bao nhiêu.”

“Tôi nhớ tháng rồi chỉ mượn anh có một lần thôi mà.”

“Lương ông 30.000 đồng, đóng hụi chết mất 10.000, tạm ứng cho ông 5.000 khi thua chầu bida, cách đây mấy ngày ông lấy 10.000 về Sài gòn thăm bà con anh em gì đó, ông mượn Thầy Sâm 3000, cấn qua cấn lại nên ông chỉ được lãnh 2000 đồng thôi.”

“Trời ơi tôi chỉ có lãnh được 2000 đồng thôi sao anh Thiên. Làm sao chi tiêu trong cả tháng, thôi anh tạm ứng thêm cho tôi 10.000 đồng để đủ xài trong 30 ngày tới.”

Thiên cự nự một hồi sau cùng anh vẫn cho. Anh em thầy giáo quí anh ở chỗ đó, giúp đỡ và thương anh em, mà đâu có phải một mình tôi đâu, trong đó có vài thầy độc thân vui tính hơn tôi nhiều. Đến bây giờ bọn tui cũng vẫn thường nhắc đến mỗi khi có dịp họp mặt thường niên.

Sài Gòn, Quận 4, ngày 06-10-2011

Nguyễn Văn Quýt